CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP. Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2026
ĐƠN KHIẾU NẠI
(Đối với Quyết định số 7156/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Lâm Nguyệt Nga, địa chỉ: 772A Sư Vạn Hạnh, phường Hòa Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh (lần đầu) ngày 23/9/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt, TPHCM)
| Kính gửi: |
CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
| BÊN KHIẾU NẠI: |
|
| BÊN BỊ KHIẾU NẠI: |
|
| Tên |
: |
…………………… |
| Địa chỉ trụ sở chính |
: |
…………………………………… |
| |
|
|
|
NỘI DUNG
KHIẾU NẠI:
Tôi là người quản lý và chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số: 602 (số mới là thửa đất số 32), tờ bản đồ số: 77, diện tích: 562 m², địa chỉ: khu phố 3, thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Tp. Hồ Chí Minh (nay là xã Tân Nhựt, Tp. Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 774216, số vào sổ cấp GCN: CH00706 do Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/5/2011 cho tôi. Phần diện tích đất này nguồn gốc là thửa đất số 901, tờ bản đồ số 09, diện tích: 1.500m2, đất vườn, tọa lạc tại xã Tân Túc, huyện Bình Chánh, TPHCM cấp cho ông Lâm Chí Cường, đến ngày 19/1/2001 ông Cường chuyển nhượng cho tôi. Đến ngày 6/10/2010 tôi đã chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở là 562m2, diện tích đất nông nghiệp còn lại là: 938m2, vào 30/5/2011 tôi đã được cấp giấy chứng nhận đất ở 562m2 như trên.
Theo Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 08/4/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt và Phương án số 466/PABT-HĐBT ngày 08/4/2026 về việc chi tiết bồi thường, hỗ trợ tái định cư dự án thành phần 2: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn huyện Bình Chánh thuộc dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1 (đoạn từ Kinh Dương Vương đến ranh tỉnh Long An), theo phương thức đối tác công tư (Hợp đồng BOT) (nay là đường Lê Khải Phiêu) của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt, với nội dung là tôi bị Nhà nước thu hồi phần đất có diện tích 466,6 m², thuộc thửa đất số 32, tờ bản đồ số 77, địa chỉ: 9/26H Lê Khả Phiêu, ấp 53, xã Tân Nhựt, Tp. Hồ Chí Minh.
Với tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 5.604.003.310 đồng (năm tỷ, sáu trăm lẻ bốn triệu, không trăm lẻ ba nghìn, ba trăm mười đồng). Tuy nhiên, tôi không đồng ý với Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 08/4/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt.
Ngày 20/8/2026, tôi đã nộp đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt, Thành phố Hồ Chí Minh đối với “Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt”, với nội dung yêu cầu như sau:
- Yêu cầu bồi thường, hỗ trợ theo loại đất ở đơn giá 60.060.000 đồng/m² do hiện trạng là nhà kết hợp mua bán, kinh doanh, không phải đất cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Yêu cầu kiểm tra lại mức khấu trừ nghĩa vụ tài chính.
- Yêu cầu bồi thường, hỗ trợ bổ sung toàn bộ công trình, vật kiến trúc bị ảnh hưởng trong Dự án do xây dựng năm 2013.
Đến ngày 23/9/2026, tôi nhận được Quyết định số 7156/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Lâm Nguyệt Nga, địa chỉ: 772A Sư Vạn Hạnh, phường Hòa Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh (lần đầu) của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt, Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung là giữ nguyên Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt và không công nhận toàn bộ nội dung khiếu nại của tôi, yêu cầu bồi thường, hỗ trợ theo loại đất ở đơn giá 60.060.000 đồng/m²; yêu cầu kiểm tra lại mức khấu trừ nghĩa vụ tài chính và yêu cầu bồi thường, hỗ trợ bổ sung toàn bộ công trình vật kiến trúc bị ảnh hưởng trong dự án.
Tuy nhiên, tôi không đồng ý với những kết luận của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt, Tp. Hồ Chí Minh tại Quyết định số 7156/QĐ-UBND vì còn nhiều sai sót nghiêm trọng, đưa ra cơ sở pháp lý không phù hợp. Xác định loại đất, khấu trừ nghĩa vụ tài chính và xác định thời điểm hình thành công trình, vật kiến trúc chưa được xem xét đầy đủ, viện dẫn căn cứ pháp lý chưa phù hợp với tình trạng pháp lý. Làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi. Cụ thể như sau:
- Việc Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt xác định phần đất bị thu hồi của tôi là “đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp” và áp mức giá bồi thường rất thấp là hoàn toàn không đúng pháp luật.
Thứ nhất: Theo trang 07 của Quyết định số 7156/QĐ-UBND, thể hiện phần nội dung: Căn cứ theo điểm c khoản 5 Điều 5 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2024, quy định chi tiết loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp.
“Điều 5. Quy định chi tiết loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp
5. Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, bao gồm:
…
c) Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp là đất xây dựng các công trình sản xuất công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này, kể cả trụ sở và các công trình khác phục vụ cho sản xuất hoặc cho người lao động gắn liền với cơ sở sản xuất; đất làm sân kho, nhà kho, bãi gắn với khu vực sản xuất;”
Theo quy định tại điều 9, khoản 3, điểm đ định nghĩa về đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, gồm “Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, gồm: đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản;”
Ngoài ra, tại trang 07, Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt nhận định rằng “Hiện trạng thực tế sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp (nhà xưởng đang hoạt động sản xuất kinh doanh)”
Như vậy, theo quy định mà Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt đã viện dẫn nêu trên, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp gắn liền với đất sử dụng cho công trình sản xuất công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp hoặc các công trình phục vụ cho hoạt động sản xuất, gắn với cơ sở sản xuất. Có thể thấy, điểm đáng chú ý ở đây, điều kiện bắt buộc để xác định đây có phải là đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp không, thì phải thỏa mãn yếu tố đất đó có “cơ sở sản xuất” hoặc “hoạt động sản xuất”.
Trong khi đó, đối với thửa đất của tôi được Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh cấp ngày 30/5/2011 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ774216, số vào sổ cấp GCN CH00706, đã xác định mục đích sử dụng đất là “đất ở tại đô thị”. Ngoài ra, tôi không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh hay cơ sở sản xuất nào. Ngược lại, đây là nơi tôi thường xuyên sinh sồng và sinh hoạt, sử dụng điện nước đầy đủ, có phòng ngủ, phòng bếp, nhà vệ sinh, đồng thời kết hợp kinh doanh mua bán, không phải hoạt động sản xuất kinh doanh. Lưu ý chúng tôi chỉ kinh doanh mua bán, không sản xuất.
Việc trên đất có hoạt động mua bán, kinh doanh kết hợp với việc sinh sống không đương nhiên đồng nghĩa với việc toàn bộ phần đất của tôi đã chuyển thành đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt chỉ dựa vào nhận định trên đất có “nhà xưởng đang hoạt động sản xuất kinh doanh”, từ đó làm cơ sở để xác định phần diện tích đất bị thu hồi của tôi là đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp và bồi thường với mức giá 27.061.000 đồng/m² là không có căn cứ.
Thứ hai: theo trang 08 của Quyết định số 7156/QĐ-UBND thể hiện phần nội dung “Từ những quy định và pháp lý nêu trên, phần đất bị ảnh hưởng trong Dự án có diện tích 466,6 m2 thuộc một phần thửa số 901, tờ bản đồ số 09 (Tài liệu 02/CT-UB), tương ứng một phần thửa số 332, tờ bản đồ số 77 (Tài liệu BĐĐC) thuộc Bộ địa chính xã Tân Nhựt đủ điều kiện được tính hỗ trợ theo loại Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại dịch vụ ….”
Căn cứ theo điểm b khoản 5 Điều 5 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2024, quy định chi tiết loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp.
“Điều 5. Quy định chi tiết loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp
5. Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, bao gồm:
…
b) Đất thương mại, dịch vụ là đất xây dựng các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, thương mại và các công trình khác phục vụ cho kinh doanh, dịch vụ, thương mại; cơ sở lưu trú, dịch vụ cho người chơi gôn (trừ phần đường gôn của sân gôn, sân tập trong sân gôn và hệ thống cây xanh, mặt nước, cảnh quan, hạng mục công trình phục vụ cho việc quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng, kinh doanh sân gôn); trụ sở, văn phòng đại diện của các tổ chức kinh tế; đất làm kho, bãi để hàng hóa của tổ chức kinh tế không thuộc khu vực sản xuất; bãi tắm gắn với cơ sở kinh doanh, dịch vụ;
Trên thực tế, đất của tôi có nhà kho và được sử dụng làm kho bãi, cơ sở phục vụ cho hoạt động mua bán, hoàn toàn không diễn ra bất kỳ hoạt động sản xuất công nghiệp hay tiểu thủ công nghiệp nào. Từ những căn cứ đã nêu trên, phần diện tích đất bị thu hồi của tôi đủ điều kiện để được xác định là “đất thương mại, dịch vụ”. Việc Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt kết luận phần đất của tôi là loại đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp là không có cơ sở thực tiễn và trái với tinh thần của Luật Đất đai 2024 và Nghị định 102/2024/NĐ-CP. Cụ thể là quy định tại điều 9, khoản 3, điểm đ định nghĩa về đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, gồm “Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, gồm: đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản;” và điểm b khoản 5 Điều 5 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP.
Tôi thành lập công ty TNHH Ý NGA vào năm 2009 với ngành nghề kinh doanh là “mua bán phân phối gạch men” không hề có sản xuất, kinh doanh. Điều này được thể hiện qua giấy phép kinh doanh số: 0309262265. Hồ sơ thành lập công ty công ty chúng tôi chỉ mua bán, không có sản xuất.
- Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt kết luận tôi bị khấu trừ nghĩa vụ tài chính đối với số tiền 2.448.000.000 đồng là không có cơ sở pháp lý và áp dụng sai quy định pháp luật.
Theo trang 09 của Quyết định số 7156/QĐ-UBND, Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt xác định phần diện tích 200 m² trong tổng số 466,6 m² đất bị ảnh hưởng thuộc phạm vi lộ giới, không được Nhà nước công nhận và thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024. Đồng thời, Ủy ban nhân dân xã áp dụng tiết d1 điểm d khoản 2 Điều 20 Quyết định số 11/2026/QĐ-UBND ngày 06/3/2026 và điểm b khoản 4 Điều 11 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP để xác định khấu trừ nghĩa vụ tài chính 80% đối với phần diện tích 200 m².
Tôi không đồng ý với việc xác định và khấu trừ khoản tiền 2.448.000.000 đồng, vì Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt chưa chứng minh đầy đủ căn cứ pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ tài chính, chưa làm rõ điều kiện áp dụng tại Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 và Điều 11 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP, áp dụng pháp luật không có căn cứ, đồng thời chưa chứng minh cơ sở tính toán cụ thể dẫn đến số tiền 2.448.000.000 đồng. Cụ thể:
Thứ nhất: Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt viện dẫn khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai năm 2024 và điểm b khoản 4 Điều 11 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP cần được xem xét lại về đối tượng và điều kiện áp dụng.
Theo điểm b khoản 4 Điều 11 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP, quy định như sau:
“Điều 11. Tính tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 139 Luật Đất đai
…
4. Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận vào mục đích đất ở theo quy định tại
khoản 1, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai thì tiền sử dụng đất được tính như sau:
…
b) Đối với phần diện tích đất nay được cấp Giấy chứng nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp (nếu có) theo quy định tại Nghị định về cấp giấy chứng nhận:
…
| Tiền sử dụng đất |
= |
Diện tích đất được cấp giấy chứng nhận là đất ở |
x |
Giá đất ở quy định tại Bảng giá đất |
x |
80%” |
Như vậy, theo quy định căn cứ viện dẫn nêu trên, thì tính tiền sử dụng đất trong trường hợp “nay được cấp Giấy chứng nhận vào mục đích đất phi nông nghiệp”. Trong khi đó, tôi được UBND huyện Bình Chánh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 774216, số vào sổ cấp GCN CH00706 vào ngày 30/5/2011, chứ không phải thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận lần đầu, phần này được tách ra từ giấy chứng nhận tôi nhận chuyển nhượng từ ông Cường từ năm 2001. Do đó, không có cơ sở nào để áp dụng điểm b khoản 4 Điều 11 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP để khấu trừ nghĩa vụ tài chính đối với 2.448.000.000 đồng.
Việc Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt căn cứ vào đâu để xác định đất của tôi thuộc đối tượng áp dụng quy định tại điểm b khoản 4 Điều 11 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP, và vì sao một quy định về tính tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận lại được sử dụng để xác định số tiền khấu trừ nghĩa vụ tài chính. Do đó, không đủ cơ sở để kết luận rằng khoản 2.448.000.000 đồng là nghĩa vụ tài chính mà tôi phải chịu và được phép khấu trừ vào khoản tiền hỗ trợ. Trên 02 giấy chứng nhận của tôi không hề ghi tôi nợ nghĩa vụ tài chính. Phần diện tích đất này chúng tôi sử dụng hoàn toàn như đất ở.
Thứ hai: Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt thực hiện khấu trừ nghĩa vụ tài chính mà không chứng minh được sự tồn tại của số tiền 2.448.000.000 đồng.
*Căn cứ theo khoản 6, Điều 94 Luật Đất đai 2024 và khoản 1, Điều 25 Nghị định 88/NĐ-CP quy định như sau:
“Điều 94. Kinh phí và chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
…
6. Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường để hoàn trả ngân sách nhà nước.”
“Điều 25. Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
1. Việc trừ khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai vào số tiền được bồi thường quy định tại
khoản 6 Điều 94 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước và tiền chậm nộp (nếu có) nhưng đến thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư vẫn chưa nộp;
b) Số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính quy định tại điểm a khoản này được xác định theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
Trường hợp số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính đến thời điểm có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư lớn hơn số tiền được bồi thường thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó; nếu hộ gia đình, cá nhân được bố trí tái định cư thì sau khi trừ số tiền bồi thường vào số tiền để được giao đất ở, mua nhà ở tại nơi tái định cư mà số tiền còn lại nhỏ hơn số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì hộ gia đình, cá nhân tiếp tục được ghi nợ số tiền chênh lệch đó;
c) Tiền được bồi thường để trừ vào số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính gồm tiền được bồi thường về đất, tiền được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có).
Không trừ các khoản tiền được bồi thường chi phí di chuyển, bồi thường thiệt hại về tài sản, bồi thường do ngừng sản xuất kinh doanh và các khoản tiền được hỗ trợ vào khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.”
Từ những căn cứ đã viện dẫn nêu trên, điều kiện tiên quyết, cần và đủ để thực hiện việc khấu trừ nghĩa vụ tài chính là cơ quan nhà nước phải xác định và chứng minh được một khoản nợ nghĩa vụ tài chính cụ thể đang tồn tại thực tế được ghi trên giấy chứng nhận hoặc bằng thông báo nợ thuế. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt hoàn toàn không đưa ra được bất kỳ thông báo nợ thuế, ghi nợ thuế trên giấy chứng nhận, biên lai nợ tiền sử dụng đất hay quyết định truy thu tiền thuê đất nào đối với thửa đất của tôi.
Việc khấu trừ nghĩa vụ tài chính vào số tiền bồi thường, chỉ được thực hiện khi tôi thực sự còn nợ tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất được cơ quan nhà nước xác nhận bằng thông báo nợ tiền sử dụng đất. Trong khi đó, cho đến thời điểm hiện tại, tôi không có bất kỳ khoản nợ nào về tiền thuế hay tiền sử dụng đất, nhưng Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt tính ra số 2.448.000.000 đồng để khấu trừ là không đúng quy định, áp dụng bất lợi cho người bị thu hồi đất, không có căn cứ pháp lý.
- Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt nhận định tôi thuộc trường hợp không được bồi thường, hỗ trợ toàn bộ công trình, vật kiến trúc là không có cơ sở.
Theo trang 10 của Quyết định số 7156/QĐ-UBND thể hiện phần nội dung:
“+ Về nhà: thời điểm xây dựng căn nhà: Nhà + hiên xây dựng sau ngày 01 tháng 7 năm 2014, nhà xưởng xây dựng sau ngày 01 tháng 7 năm 2006 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014.
+ Về vật kiến trúc khác (hàng rào, sân xi măng, sân đá…): sân bê tông và hàng rào. Thời điểm xây dựng vật kiến trúc khác: xây dựng sau ngày 01 tháng 7 năm 2014.”
Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt chỉ hỗ trợ, bồi thường nhà xưởng với 60% đơn giá, vì cho rằng được xây dựng trước ngày 01/7/2014. Đối với phần công trình, vật kiến trúc gồm nhà, hiên và sân bê tông thì không hỗ trợ bồi thường vì xây dựng sau ngày 01/7/2014. Nhận định này không khách quan, không phản ánh đúng quá trình hình thành và sử dụng thực tế. Đồng thời, tôi không biết Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt đã căn cứ vào hồ sơ, tài liệu, chứng cứ nào để xác định nhà ở và các hạng mục công trình liên quan được xây dựng sau ngày 01/7/2014.
Thứ nhất: nhà ở và nhà xưởng của tôi được xây dựng cùng một thời điểm, trong cùng một thời gian tạo lập công trình và đều được xây dựng trước ngày 01/7/2014, cụ thể là vào đầu năm 2013. Nhà ở được xây dựng nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt của gia đình, sử dụng điện, nước và có đầy đủ các khu vực sinh hoạt thiết yếu như phòng ngủ, phòng bếp, nhà vệ sinh và các hạng mục phục vụ đời sống. Đồng thời, phần nhà xưởng được xây dựng để kết hợp với việc mua bán, kinh doanh của gia đình.
Thứ hai: Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt chưa chỉ ra được tài liệu, chứng cứ cụ thể chứng minh nhà ở của tôi được xây dựng sau ngày 01/7/2014. Việc xác định thời điểm xây dựng công trình là yếu tố rất quan trọng để xác định mốc thời gian, vì có liên quan trực tiếp đến mức bồi thường, hỗ trợ mà tôi được hưởng, bởi chỉ cần xác định thời điểm xây dựng khác nhau thì tỷ lệ và mức hỗ trợ đối với công trình cũng có thể khác nhau. Do đó, việc xác định thời điểm xây dựng cần phải dựa trên tài liệu, chứng cứ và kết quả xác minh cụ thể, bảo đảm tính khách quan, chính xác, phù hợp với hiện trạng và quá trình sử dụng thực tế của công trình.
Tuy nhiên, trong Quyết định số 7156/QĐ-UBND, Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt chỉ đưa ra kết luận rằng “Nhà + hiên xây dựng sau ngày 01 tháng 7 năm 2014” nhưng chưa làm rõ căn cứ nào để đưa ra kết luận này; chưa chỉ rõ tài liệu nào chứng minh thời điểm xây dựng nhà ở, hiên, sân bê tông và hàng rào; cũng chưa giải thích cơ sở nào để xác định nhà xưởng được xây dựng trước ngày 01/7/2014, nhưng nhà ở lại được xây dựng sau ngày 01/7/2014. Tôi chưa được biết, xem giấy xác nhận số 484 ngày 10/2/2026 của UBND xã Tân Nhựt về pháp lý nguồn gốc đất, thời điểm tạo lập và sữa chữa xem có đúng thực tế không?
Các công trình tôi xây dựng để bảo đảm mục đích sinh sống, sinh hoạt, tạo nên giá trị trong mua bán…việc đến bù, hỗ trợ như trên không những không đúng pháp luật mà còn không đúng tinh thần khi nhà nước thu hồi đất thì phải bồi thường, hỗ trợ, di dời, tạo công ăn việc làm…cho người bị thu hồi.
Từ những phân tích và căn cứ đã viện dẫn nêu trên, tôi không đồng ý với Quyết định số 7156/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Lâm Nguyệt Nga, địa chỉ: 772A Sư Vạn Hạnh, phường Hòa Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh (lần đầu) ngày 23/9/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt vì còn nhiều sai sót và không có cơ sở pháp lý, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi được pháp luật bảo vệ.
YÊU CẦU CỦA NGƯỜI KHIẾU NẠI:
Nay bằng đơn này, tôi đề nghị Quý cơ quan giải quyết cho tôi vấn đề sau:
1/ Yêu cầu xem xét hủy bỏ toàn bộ Quyết định số 7156/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Lâm Nguyệt Nga, địa chỉ: 772A Sư Vạn Hạnh, phường Hòa Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh (lần đầu) ngày 23/9/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt và quyết định số Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 08/4/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt. Do quyết định còn có những nội dung chưa được xem xét, đánh giá đầy đủ, việc áp dụng và viện dẫn quy định pháp luật chưa phù hợp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tôi.
2/ Yêu cầu xem xét điều chỉnh mức bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích 200 m² theo chính sách, đơn giá áp dụng đối với đất ở, với mức giá 60.060.000 đồng/m². Hoặc yêu cầu áp dụng giá đất của tôi là “đất thương mại dịch vụ”, không phải đất sản xuất, kinh doanh
3/ Yêu cầu xem xét, xác minh lại thời điểm tạo lập thực tế của các công trình, vật kiến trúc trên đất; trên cơ sở đó bồi thường, hỗ trợ đầy đủ theo quy định pháp luật đối với các hạng mục bị ảnh hưởng bởi dự án, gồm: sân bê tông, diện tích 216,6 m² ; hiên: cột sắt, mái tôn, nền bê tông, diện tích 184,3 m² ; nhà: cột sắt, mái tôn, nền gạch ceramic, tường gạch, không trần, diện tích 27,2 m².
4/ Yêu cầu xem xét lại toàn bộ căn cứ pháp lý và cơ sở tính toán đối với khoản tiền 2.448.000.000 đồng bị khấu trừ do nghĩa vụ tài chính. Trường hợp không có đủ căn cứ pháp lý để xác định khoản tiền trên là nghĩa vụ tài chính, đề nghị hủy bỏ khoản khấu trừ nghĩa vụ tài chính và tính lại tiền bồi thường, hỗ trợ cho tôi theo đúng quy định.
5/ Đề nghị Quý Cơ quan ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản cho tôi, trong đó nêu rõ căn cứ pháp luật và kết quả giải quyết đối với từng nội dung khiếu nại của tôi.
Trân trọng cảm ơn./.
Tài liệu đính kèm:
- Căn cước công dân của tôi (bản sao);
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 774216, số vào sổ cấp GCN: CH00706 do UBND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/5/2011 (bản sao);
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P111361, số vào sổ CGCN QSDĐ số 1355 QSDĐ do UBND huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/3/2001 (bản sao);
- Biên bản điều tra hiện trạng nhà ngày 15/01/2026 (bản sao);
- Thông báo số 2087/TB-BQLDA ngày 06/8/2026 của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng- UBND xã Tân Nhựt (bản sao);
- Biên bản làm việc xác định nội dung đơn của tôi ngày 25/8/2026 (bản sao)
- Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 08/4/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt (bản sao);
- Quyết định 3234/QĐ-UBND ngày 31/7/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt (bản sao);
- Quyết định số 7156/QĐ-UBND ngày 23/9/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt (bản sao);
- Quyết định 3493/QĐ-UBND ngày 15/8/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt (bản sao);
- Thông báo số 13/TB-HĐBT ngày 14/7/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt (bản sao);
- Phương án số 466/PABT-HĐBT ngày 08/4/2026 về việc chi tiết bồi thường, hỗ trợ tái định cư dự án thành phần 2: Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn huyện Bình Chánh thuộc dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1 (đoạn từ Kinh Dương Vương đến ranh tỉnh Long An), theo phương thức đối tác công tư (Hợp đồng BOT) (nay là đường Lê Khải Phiêu) của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt (bản sao);
- Biên bản đối thoại với người khiếu nại số 638/BB-UBND ngày 18/9/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt (bản sao);
- Biên bản ngày 03/9/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt (bản photo);
- Biên bản ngày 26/6/2026 của Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt (bản photo);
- Biên bản ngày 04/8/2026 Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt (bản photo);
- Biên bản ngày 18/9/2026 Ủy ban nhân dân xã Tân Nhựt (bản photo);
- Biên bản giao nhận mặt bằng ngày 09/9/2026 (bản photo);
- Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 26/6/2026 (bản photo);
- Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở ngày 28/01/2011 (bản photo);
Người khiếu nại
LÂM NGUYỆT NGA