Luật sư tư vấn tội sử dụng ma túy và tổ chức sử dụng ma túy khác nhau thế nào?

1. Các yếu tố cấu thành tội tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy

Theo quy định tại Điều 255 BLHS 2015 thì hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo đó, các yếu tố cấu thành tội này bao gồm:

Thứ nhất, mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng có đồng phạm nhưng đồng phạm ở đây được hiểu là thực hiện theo sự chỉ huy, phân công điều hành (không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, không bắt buộc phải có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ trong các đồng phạm như  phạm tội có tổ chức).

Hành vi tổ chức sử dụng chất ma tuý có thể được thực hiện ở nhiều địa điểm khác nhau hoặc cũng có thể ở một nơi cố định. Người nghiện ma túy mà có chất ma túy cho người nghiện khác sử dụng trái phép thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Thứ hai, mặt chủ quan của tội phạm:

Người phạm tội thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện. Như vậy, đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy chỉ có thể được thực hiện do cố ý trực tiếp, không có trường hợp nào do cố ý gián tiếp.

Thứ ba, khách thể của tội phạm

Khách thể của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là chế độ quản lý của Nhà nước về việc sử dụng chất ma tuý.

Thứ tư, chủ thể của tội phạm: Là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

Như vậy, người được xác định là có hành vi phạm tội tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy phải thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm trên.

2. Hình phạt đối với người phạm tội tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy

Căn cứ quy định tại Điều 255 BLHS 2015 thì hình phạt đối với tội tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy bao gồm 04 khung hình phạt chính và 01 khung hình phạt bổ sung, cụ thể như sau:

– Khung cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự, theo đó người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

– Khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm được áp dụng đối với trường hợp phạm tội sau:

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Đối với 02 người trở lên;

+ Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

+ Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

+ Đối với người đang cai nghiện;

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

+ Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

+ Tái phạm nguy hiểm.

– Khung tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 Điều 255 Bộ luật hình sự với mức phạt tù từ 15 năm đến 20 năm được áp dụng đối với trường hợp phạm tội sau:

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

+ Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

+ Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

+ Đối với người dưới 13 tuổi.

– Khung tăng nặng thứ ba được quy định tại khoản 4 Điều 255 Bộ luật hình sự với mức phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân được áp dụng đối với trường hợp phạm tội sau:

+ Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

+ Làm chết 02 người trở lên.

– Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

3. Những điểm mới của tội tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy tại Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Bộ luật Hình sự năm 1999

Thứ nhất, về hình phạt có những điểm mới sau:

– Bỏ hình phạt tử hình trong định khung hình phạt;

– Quy định rõ về số lượng trong tình tiết định khung hình phạt:

+ Thay cụm từ “Đối với nhiều người” trong BLHS 1999 thành cụm từ “Đối với 02 người trở lên” trong BLHS 2015.

+ Thay cụm từ “Phạm tội nhiều lần” trong BLHS 1999 thành cụm từ “Phạm tội 02 lần trở lên” trong BLHS 2015.

+ Thay cụm từ “Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người” trong BLHS 1999 thành cụm từ “Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên” trong BLHS 2015.

+ Thay cụm từ “Gây chết cho nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác” trong BLHS 1999 thành cụm từ “ Làm chết 02 người trở lên” và bỏ đi trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác trong BLHS 2015.

Thứ hai, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định rõ trường hợp người chưa thành niên phạm tội tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy tại khoản 2 của Điều luật là từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Nhận thấy, việc sửa đổi, bổ sung các điều khoản về tội tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy tại Bộ luật Hình sự năm 2015 là cần thiết, các điều khoản được quy định cụ thể, rõ ràng tạo điều kiện thuận lợi cho người áp dụng luật, đồng thời thể hiện tính chất nhân đạo của Nhà nước khi bỏ hình phạt tử hình trong định khung hình phạt.

Nhiều độc giả có thắc mắc và gửi câu hỏi đến luật sư Gia Đình rằng Án treo là gì? Và các điều kiện để được hưởng Án treo khi phạm tội? Trong phạm vi bài viết này, Luật sư sẽ giải đáp đầy đủ về án treo và các điều kiện để hưởng án treo theo quy định mới nhất 2025.

Án treo là gì?

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù.

Như vậy, án treo không được coi là hình phạt mà đơn giản chỉ là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù khi và chỉ khi người phạm tội đáp ứng được các điều kiện được quy định và Tòa xét thấy không cần phải cách ly họ khỏi xã hội. Thay vào đó, trong thời gian thử thách, họ chỉ chịu sự giáo dục, giám sát của chính quyền địa phương hoặc của cơ quan nơi làm việc. Tuy nhiên, nếu họ phạm tội mới trong thời gian thử thách thì hình phạt tù phải được áp dụng bằng cách tổng hợp hình phạt của bản án cũ và mới.

Cơ sở pháp lý: Điều 1, Điều 7 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP sửa đổi bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Điều kiện hưởng án treo

Có mức phạt tù không quá 3 năm

Pháp luật chỉ đặt ra yêu cầu người phạm tội có mức phạt tù từ 3 năm trở xuống, không phân biệt là tội gì, cũng không phân biệt là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng.

Ngay cả trong trường hợp tổng hợp hình phạt chung không quá 3 năm, người phạm tội hoàn toàn có thể được hưởng án treo

Nhân thân tốt

Nghĩa là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, làm việc.

Những đối tượng sau cũng có thể được xem xét cho hưởng án treo:

  • Người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, đã được xóa án tích; đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà tính đến lần phạm tội này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác.
  • Người bị kết án mà khi định tội đã sử dụng tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật” hoặc “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án” và có đủ các điều kiện khác.
  • Người bị kết án mà vụ án được tách ra để giải quyết trong các giai đoạn khác nhau (tách thành nhiều vụ án) và có đủ các điều kiện khác.

Có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Trong 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần có ít nhất 1 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Nếu có tình tiết tăng nặng thì số tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng từ 02 tình tiết trở lên, trong đó tồn tại ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Cơ sở pháp lý: Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP sửa đổi bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định

Mục đích của điều kiện này nhằm hỗ trợ cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát và giáo dục người phạm tội.

Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án, cần có địa chỉ xác định cụ thể theo Luật Cư trú.

Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Người phạm tội có khả năng tự cải tạo

Nếu Tòa xét thấy không cần bắt người phạm tội chấp hành hình phạt tù bởi họ có khả năng tự cải tạo và việc cho người đó hưởng án treo không ảnh hưởng xấu đến xã hội hay an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì người phạm tội có khả năng được hưởng án treo.

Tòa xem xét thận trọng, chặt chẽ các điều kiện

Tòa án được yêu cầu trước khi quyết định cho người phạm tội hưởng án treo cần đảm bảo xem xét thận trọng và chặt chẽ các điều kiện trên, đặc biệt xem xét kỹ đối với 1 số đối tượng đặc biệt sau:

  • Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy nã hoặc yêu cầu truy nã, trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
  • Người phạm tội bị xét xử cùng 1 lần về nhiều tội, trừ khi người đó là người chưa thành niên hoặc người đó bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người đó là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể.
  • Người phạm tội 2 lần trở lên, trừ khi:

Người đó là người chưa thành niên;

Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng;

Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể;

Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú.

Không thuộc vào Các trường hợp không được hưởng án treo thì mới được xem xét

Người phạm tội là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Người thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy nã hoặc yêu cầu truy nã, trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo.

Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ một trong các trường hợp sau đây:

  • Người phạm tội là người dưới 18 tuổi;
  • Người phạm tội bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể

Người phạm tội 02 lần trở lên, trừ một trong các trường hợp sau:

  • Người phạm tội là người dưới 18 tuổi;
  • Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng;
  • Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể;
  • Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú”.

Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Thời gian thử thách của án treo

Thời gian thử thách của án treo bằng 2 lần mức hình phạt tù, với điều kiện không dưới 1 năm và không quá 5 năm.

Riêng với đối tượng được hưởng án treo đã bị tạm giữ, tạm giam:

  • Không trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt tù để ấn định thời gian thử thách.
  • Tòa án chỉ trừ thời gian họ đã bị tạm giữ, tạm giam này vào thời gian chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo hoặc bản án mới nếu họ phạm tội mới hoặc vi phạm nghĩa vụ buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo trong thời gian thử thách.

Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo

  • Tòa sơ thẩm cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Tòa sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa phúc thẩm cũng cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Tòa sơ thẩm không cho hưởng án treo nhưng Tòa phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.
  • Tòa sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại và Tòa phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Tòa sơ thẩm, Tòa phúc thẩm cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, phúc thẩm lại, Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc tuyên án phúc thẩm lần đầu.
  • Tòa sơ thẩm không cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.
  • Tòa sơ thẩm, Tòa phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.
  • Tòa sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm hoặc sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Tòa sơ thẩm cho hưởng án treo nhưng Tòa phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại và sau khi xét xử sơ thẩm lại, Tòa sơ thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm lần sau.

Luật sư tư vấn về án treo và hướng bào chữa vụ án hình sự

  • Giải đáp các thắc mắc về điều kiện được hưởng án treo; thời gian thử thách; hồ sơ, thủ tục xin hưởng án treo.
  • Tư vấn các vấn đề liên quan: quy định rút ngắn thời gian thử thách; trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách án treo; quy định về kháng cáo;…
  • Đánh giá mặt chủ quan, khách quan của hành vi phạm tội. Từ đó tìm cách khắc phục hậu quả; hướng dẫn cách chứng minh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; chứng minh nhân thân tốt;…
  • Luật sư trực tiếp gặp người bị tạm giữ; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam
  • Luật sư có mặt khi cơ quan điều tra lấy lời khai người bị tạm giam, tạm giữ; xem các biên bản về hoạt động tố tụng; các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa.
  • Luật sư bào chữa cho khách hàng, đưa ra những nhận định pháp lý và bằng chứng chứng minh cho các điều kiện được hưởng án treo của người phạm tội.

Trên đây là nội dung tư vấn của Luật sư về án treo và các điều kiện để được hưởng án treo. Quý khách hàng quan tâm và có nhu cầu tư vấn pháp luật Hình sự, vui lòng liên hệ:
LS TRẦN MINH HÙNG

BÀI VIẾT CỦA LS TRẦN MINH HÙNG