Luật sư chuyên tư vấn báo chữa tội hủy hoại tài sản

1. Cố ý làm hư hỏng tài sản là gì?

Cố ý làm hư hỏng tài sản được hiểu là hành vi của một người có năng lực trách nhiệm hình sự, bằng ý chí chủ quan của mình, đã thực hiện các hành vi như đập phá, làm biến dạng, làm giảm giá trị sử dụng hoặc khiến tài sản của người khác không thể sử dụng được nữa. Khác với trường hợp vô ý, người phạm tội nhận thức rõ hậu quả thiệt hại có thể xảy ra nhưng vẫn mong muốn hoặc mặc kệ để hậu quả đó xảy ra. Hành vi này không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức mà còn gây mất an ninh, trật tự xã hội, do đó bị điều chỉnh và xử lý theo Bộ luật Hình sự với nhiều khung hình phạt khác nhau tùy mức độ thiệt hại.

2. Căn cứ pháp lý về tội cố ý làm hư hỏng tài sản

Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản được quy định cụ thể tại Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), như sau:

“…

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
c) Tài sản là bảo vật quốc gia;
d) Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Để che giấu tội phạm khác;
e) Vì lý do công vụ của người bị hại;
g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

4. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

…”

3. Các yếu tố cấu thành tội cố ý làm hư hỏng tài sản

Để một hành vi bị coi là phạm tội theo Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), cần thỏa mãn đầy đủ bốn yếu tố cấu thành như sau:

  • Khách thể: Hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức và trật tự an toàn xã hội.
  • Mặt khách quan: Người phạm tội có hành vi đập phá, phá hỏng, làm giảm giá trị sử dụng hoặc khiến tài sản mất hẳn công dụng. Hậu quả phải gây thiệt hại từ 2.000.000 đồng trở lên, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc các trường hợp luật định (ví dụ: tài sản là di vật, cổ vật, phương tiện kiếm sống chính…).
  • Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Trường hợp gây thiệt hại lớn, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi cũng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
  • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý – người phạm tội nhận thức rõ hành vi sẽ gây thiệt hại tài sản nhưng vẫn mong muốn hoặc bỏ mặc hậu quả xảy ra.

Như vậy, không phải bất kỳ hành vi làm hỏng tài sản nào cũng bị xử lý hình sự. Chỉ khi có đủ các yếu tố cấu thành trên, hành vi mới bị coi là tội cố ý làm hư hỏng tài sản.

4. Hình phạt đối với tội cố ý làm hư hỏng tài sản

Theo quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), mức hình phạt cho hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản được chia theo giá trị thiệt hại và tính chất vụ việc. Cụ thể:

  • Khung cơ bản: Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm nếu gây thiệt hại tài sản từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp đặc biệt (tái phạm, tài sản là di vật, phương tiện kiếm sống chính của người bị hại…).
  • Khung tăng nặng: Phạt tù từ 2 năm đến 7 năm nếu phạm tội có tổ chức, gây thiệt hại từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng, dùng chất nguy hiểm, tài sản là bảo vật quốc gia, tái phạm nguy hiểm…
  • Khung nặng hơn: Phạt tù từ 5 năm đến 10 năm nếu gây thiệt hại tài sản từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng.
  • Khung đặc biệt nghiêm trọng: Phạt tù từ 10 năm đến 20 năm nếu gây thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên.
  • Hình phạt bổ sung: Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đến 100 triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Như vậy, tùy mức độ thiệt hại và tình tiết vụ án, hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản có thể chỉ bị phạt tiền nhưng cũng có thể dẫn tới án tù lên tới 20 năm

5. Trường hợp nào không bị truy cứu hình sự khi làm hư hỏng tài sản?

Không phải mọi hành vi làm hư hỏng tài sản đều bị coi là tội phạm. Theo Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025), nếu giá trị thiệt hại dưới 2.000.000 đồng và không thuộc các trường hợp đặc biệt như: tái phạm, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi này, tài sản là di vật – cổ vật, phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự, thì người vi phạm không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này, họ chỉ phải chịu xử phạt hành chính hoặc bồi thường dân sự. Tuy nhiên, để xác định chính xác một hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội cố ý làm hư hỏng tài sản hay chỉ dừng ở mức vi phạm hành chính, người dân nên tham khảo ý kiến của  luật sư  nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của mình.


1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
e) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
g) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
h) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
i) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
k) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
m) Phạm tội do lạc hậu;
n) Người phạm tội là phụ nữ có thai;
o) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
r) Người phạm tội tự thú;
s)14 Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
t)15 Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
u) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
v) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
x)16 Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.
- Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
- Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.
2. Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
a) Phạm tội có tổ chức;
b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
d) Phạm tội có tính chất côn đồ;
đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;
e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;
g) Phạm tội 02 lần trở lên;
h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;
i) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc17 người đủ 70 tuổi trở lên;
k) Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;
l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;
m) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc18 tàn ác để phạm tội;
n) Dùng thủ đoạn hoặc19 phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội;
o) Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội;
p) Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.
- Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
Luật sư Trần Minh Hùng – Tốt nghiệp đại học Luật TPHCM, tốt nghiệp Học viện Tư Pháp, Tốt nghiệp Luật sư, thuộc Đoàn LS TPHCM, Thuộc Liên đoàn LSVN là một trong những luật sư sáng lập văn phòng luật, giàu kinh nghiệm về kiến thức và thực tiễn đã dành nhiều thắng lợi vụ kiện và quan trọng luật sư Hùng luôn coi trọng chữ Tâm của nghề luật sư và trách nhiệm đối với xã hội nên đã được nhiều hãng báo chí, truyền thông, Đài truyền hình, Đài tiếng nói Việt nam phỏng vấn pháp luật,  nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan đến đời sống. Luật sư Trần Minh Hùng là đối tác tư vấn pháp luật được nhiều hãng truyền thông, báo chí trong nước  tin tưởng với nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn trên VOV Giao Thông – Đài tiếng nói Việt Nam, Đài phát thanh VOH TPHCM, Đài truyền hình TP.HCM (HTV), Đài truyền hình Việt Nam (VTV), Truyền hình SCTV, THĐN, Truyền hình Quốc Hội VN, Truyền hình Công an ANTV, Đài truyền hình Vĩnh Long, Đài phát thanh kiên giang, Đài Bình Dương, Truyền hình Quốc Phòng, VTC... và các hãng báo chí trên cả nước, được các tổ chức, trường Đại học Luật TP.HCM mời làm giám khảo các cuộc thi Phiên tòa giả định với Đại học cảnh sát, mời làm chuyên gia ý kiến về các sự kiện lớn, được mời dạy bồi dưỡng nghiệp vụ cho các luật sư……là đối tác tư vấn luật của các hãng truyền thong, các tổ chức, xã hội uy tín và chuyên nghiệp và luôn mang lại niềm tin cho khách hàng và ghi nhận sự đóng góp của chúng tôi cho xã hội...là luật sư bào chữa, tư vấn cho nhiều vụ án đỉnh điểm, quan trọng báo chí đưa tin, người dân quan tâm như vụ Ngân hàng Navibank liên quan Huyền Như Viettinbank, các vụ Giết Người do mâu thuẫn hát karaoke tại Bình Chánh, Bào chữa chủ tịch Huyện Đông Hòa – Phú Yên, Đại án Vụ cướp bitcoin 35 tỷ Long Thành- Dầu Dây, Bào chữa vụ Đại Án Đăng Kiểm, Bào chữa vụ đại án Khai thác Cát Cần giờ, Bào chữa bị cáo Huân không đeo khẩu trang mùa Covit, Vụ Nữ sinh Tân Bình bị cắt tai, bảo vệ cho MC Trấn Thành, Bào chữa, bảo vệ vụ "Bác sĩ khoa rút ống thở", Bảo vệ cho người cho thuê nhà vụ Công ty Thế giới Di Động không trả tiền thuê nhà mùa dịch covid, Tư vấn cho nghệ sĩ Thương Tín, bảo vệ vụ đổ xăng đốt 10 người tại TPHCM, Bảo vệ thành công vụ 1 bệnh nhân bị xông hơi chết tại nhà bè, các vụ Hiếp dâm, Dâm ô, Lừa Đảo, cưỡng đoạt, cướp, gây thương tích, tham ô, mua bán ma túy, cố ý làm trái, bào chữa vụ án cựu Cảnh sát Buôn Lậu và các bị cáo kiên quan, bào chữa vụ chiếm đoạt tiền công nghệ của nước Úc của bị can về công nghệ, bào chữa vụ Mua bán khẩu trang mùa covid, bào chữa nhiều vụ án ma túy, bào chữa vụ lợi dụng chức vụ quyền hạn của tổ chức tín dụng ngân hàng... .… và rất nhiều các vụ án khác về dân sự, kinh tế, thừa kế, đất đai, lao động, hành chính, doanh nghiệp.… luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi..…là hãng luật tư vấn luật cho nhiều công ty Việt Nam và nước ngoài trên cả nước luôn mang lại niềm tin cho khách hàng cũng như sự đóng góp tích cực sự công bằng, đi tìm công lý không biết mệt mỏi cho xã hội của luật sư chúng tôi.
Chúng tôi hội đủ các luật sư chuyên về các lĩnh vực, kinh nghiệm, chuyên sâu như: hình sự, dân sự, kinh tế, thừa kế, hợp đồng, đất đai, ly hôn, dịch vụ nhà đất, di chúc, lao động…