Luật sư chuyên tư vấn bảo vệ thi hành án

Sau khi bản án, quyết định đã có hiệu lực mà sự thoả thuận của các đương sự lại không được thực hiện theo đúng thỏa thuận, phán quyết của Toà án thì ai có quyền được yêu cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thực hiện? Sau đây chúng ta cùng tìm hiểu về vấn đề đó.

Quyền yêu cầu thi hành án là gì?

Quyền yêu cầu thi hành án là quyền của đương sự (người được thi hành án và người phải thi hành án) yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Trong quá trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Đương sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thoả thuận được công nhận. Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thoả thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung, bản án quyết định.

Thời hiệu yêu cầu thi hành án chi áp dụng đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu

Quyền yêu cầu thi hành án dân sự được giới hạn bởi thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự thời hiệu yêu cầu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự cụ thể như sau:

1. Trong thời hạn 05 năm, kề từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyển yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Trong trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản ản, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

2. Đồi với các trường hợp tạm hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

3. Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Như vậy, thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn do pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó người được thi hành án, người phải tiến hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành bản án, quyết định của Toà án. Hết thời hạn đó, nếu người được thi hành án, người phải thi hành án vẫn không có đơn yêu cầu thi hành án, thì người được thi hành án không còn quyền yêu cầu thi hành phần bản án, quyết định chưa yêu cầu thi hành án nữa, còn người phải thi hành án không còn nghĩa vụ phải thi hành phần bản án, quyết định đó cho người được thi hành án nữa. Bản án, quyết định hết hiệu lực thi hành (đối với phần thi hành theo đơn yêu cầu). Luật Thi hành án dân sự chỉ quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án chứ không quy định thời hạn thi hành một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật là bao lâu, khi đã có đơn yêu cầu thi hành án trong thời hiệu nêu trên thì bất cứ khi nào có điều kiện thi hành án là phải thi hành.

Tuy nhiên, thời hiệu yêu cầu thi hành án chi áp dụng đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu. Vì vậy, trường hợp, nếu người phải thi hành án phải thi hành các khoản không thuộc trường hợp cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định tại Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, thì khi hết thời hạn 5 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật mà người được thi hành án không có đơn yêu cầu thi hành án, thì người phải thi hành án có quyền chứng minh thời hiệu thi hành án đã hết.

Quyền yêu cầu thi hành án chỉ được thực hiện trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (hoặc nghĩa vụ đến hạn hay đến định kỳ quy định trong bản án). Quá thời hạn này, nếu người yêu cầu thi hành án không chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì hết quyền yêu cầu thi hành án.

1. Quy định về trình tự thủ tục thi hành án dân sự:

  • Bước 1: Yêu cầu thi hành án

Theo quy định, đương sự tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện. Ngày yêu cầu thi hành án được tính từ ngày người yêu cầu nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.

Bên cạnh đó, người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan để chứng minh quyền yêu cầu thi hành án và các tiêu chí khác tùy vào những trường hợp cụ thể.

  • Bước 2: Quyết định thi hành án

Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án. Thời hạn ra quyết định thi hành án theo yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án.

  • Bước 3: Tống đạt quyết định thi hành án
  • Bước 4: Yêu cầu người phải thi hành án chấp hành quyết định thi hành án.

2. Quy định về cưỡng chế trong thi hành án dân sự:

Việc thi hành án sẽ được tiến hành trên cơ sở tự nguyện của người phải thi hành án, nếu hết thời hạn mà pháp luật quy định mà không tự nguyện thực hiện quyết định thi hành án thì cơ quan thi hành án sẽ cưỡng chế thực hiện.

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án được áp dụng phổ biến bao gồm:

  • Biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.
  • Biện pháp kê biên, phát mại tài sản kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
  • Biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Thu nhập của người thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiều lương hưu, tiễn trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác.
  • Biện pháp khai thác tài sản của người phải thi hành án.
  • Biện pháp buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
  • Biện pháp buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định.

3. Những khó khăn trong việc yêu cầu thi hành án dân sự:

  • Thực tiễn trong hoạt động thi hành án dân sự, nhiều người dân còn không biết sau khi nhận được bản án, làm thế nào để bảo vệ quyền lợi của mình, làm thế nào để bản án/quyết định của Toà án được thực thi.
  • Phần lớn người được thi hành án lại không hiểu biết rõ về thủ tục yêu cầu thi hành án: Cách soạn thảo đơn yêu cầu thi hành án; khi nào được yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế, trình tự thủ tục yêu cầu, thời hạn thực hiện…
  • Việc yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thường được tiến hành nhiều công đoạn và mất nhiều thời gian.
  • Người phải thi hành án nhiều trường hợp cố tình không chịu thi hành án theo quy định dẫn đến vụ việc phải thi hành bị kéo dài, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án…

LS TRẦN MINH HÙNG