Khi bên vay không thể thanh toán khoản vay đúng hạn, ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Vậy, trong trường hợp nào ngân hàng có quyền tự ý bán tài sản thế chấp mà không cần sự đồng ý của bên vay? Câu trả lời sẽ được làm rõ qua bài viết dưới đây.
Căn cứ theo quy định tại Điều 299, Điều 300, Điều 303 Bộ luật Dân sự năm 2015:
“Điều 299. Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm
1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
3. Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.”
Và:
“Điều 300. Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm
1. Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác.
Đối với tài sản bảo đảm có nguy cơ bị hư hỏng dẫn đến bị giảm sút giá trị hoặc mất toàn bộ giá trị thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý ngay, đồng thời phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý tài sản đó.
2. Trường hợp bên nhận bảo đảm không thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên bảo đảm, các bên cùng nhận bảo đảm khác”.
“Điều 303. Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp
1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây:
a) Bán đấu giá tài sản;
b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;
c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;
d) Phương thức khác.
2. Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác”.
Như vậy, theo quy định của pháp luật, ngân hàng không thể tự ý bán tài sản thế chấp mà không có sự chấp thuận từ bên vay, trừ khi có các điều khoản rõ ràng trong hợp đồng thế chấp hoặc căn cứ theo các quy định pháp lý cho phép. Việc xử lý tài sản thế chấp phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định liên quan đến hoạt động của tổ chức tín dụng hiện hành.
Cụ thể hơn, khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ (cụ thể là trả nợ vay) mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, hoặc khi bên vay phải thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn do vi phạm thỏa thuận hoặc theo quy định của luật, hoặc khi có các trường hợp khác theo thỏa thuận hoặc luật quy định, ngân hàng có thể xử lý tài sản thế chấp. Việc bán đấu giá tài sản thế chấp phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc bán đấu giá tài sản cho bên thế chấp và các bên cùng nhận thế chấp khác (nếu có).
Căn cứ Điều 299, Điều 304 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 299. Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm
1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
3. Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.”
“Điều 304. Bán tài sản cầm cố, thế chấp
1. Việc bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
2. Việc tự bán tài sản cầm cố, thế chấp của bên nhận bảo đảm được thực hiện theo quy định về bán tài sản trong Bộ luật này và quy định sau đây:
a) Việc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 307 của Bộ luật này;
b) Sau khi có kết quả bán tài sản thì chủ sở hữu tài sản và bên có quyền xử lý tài sản phải thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua tài sản”.
Như vậy, trong các trường hợp sau thì ngân hàng được bán tài sản thế chấp mà không cần sự đồng ý của bên vay:
Hợp đồng thế chấp là cơ sở pháp lý quan trọng trong quan hệ vay vốn giữa ngân hàng và bên vay. Trong hợp đồng này, ngân hàng và bên vay có thể thỏa thuận điều khoản cho phép ngân hàng xử lý tài sản khi bên vay vi phạm nghĩa vụ (chẳng hạn như điều khoản ngân hàng có quyền bán đấu giá tài sản thế chấp khi bên vay không thanh toán/thanh toán trễ hạn/thanh toán không đầy đủ khoản nợ), ngân hàng căn cứ vào điều khoản này để xử lý tài sản thế chấp.
Khi khoản vay đến hạn và bên vay không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, ngân hàng không cần phải có sự đồng ý của bên vay nếu hợp đồng thế chấp đã quy định rõ quyền xử lý tài sản trong trường hợp này. Việc xử lý tài sản thế chấp có thể bao gồm bán đấu giá tài sản để thu hồi nợ.
Nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ nhưng không tự nguyện bàn giao tài sản thế chấp, ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành, các văn bản hướng dẫn liên quan. Các biện pháp này có thể bao gồm việc yêu cầu tòa án hoặc cơ quan thi hành án hỗ trợ trong việc xử lý tài sản thế chấp. Trong trường hợp này, ngân hàng có quyền bán tài sản thế chấp mà không cần sự đồng ý của bên vay.
Trong một số trường hợp, khi ngân hàng đã kiện ra tòa và tòa án ra quyết định thi hành án, ngân hàng có thể yêu cầu cơ quan thi hành án hỗ trợ trong việc xử lý tài sản thế chấp. Đây là một trường hợp đặc biệt, trong đó ngân hàng không cần sự đồng ý của bên vay để bán tài sản thế chấp. Quyết định của cơ quan thi hành án hoặc tòa án sẽ làm cơ sở pháp lý để thực hiện việc bán tài sản thế chấp.