Thế nào là lừa đảo? tội lừa đảo có được án treo không?

Mã Tư Vấn Pháp Luật:
Tình trạng:
Còn hàng

TỔNG HỢP CÁC VĂN BẢN HƯỚNG DẪN TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Với phương thức thực hiện ngày càng tinh vi, đặc biệt trong môi trường công nghệ số, việc nhận diện đúng dấu hiệu pháp lý của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Tài liệu này được xây dựng nhằm hệ thống hóa các nguồn hướng dẫn quan trọng, tạo trục tham chiếu thống nhất cho nghiên cứu và thực hành pháp lý.

1. Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

 

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.


2. Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999

2. Phạm tội chưa đạt (Điều 18).

a. Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì tội phạm chưa đạt là trường hợp đã bắt đầu cố ý thực hiện tội phạm, nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người tội phạm. Khác với chuẩn bị phạm tội, thì người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt (bất kỳ tội phạm nào do cố ý). Tuy nhiên, cần chú ý là chỉ khi có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng tội phạm mà người phạm tội không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn chủ quan của họ thuộc khoản nào của điều luật tương ứng quy định về tội phạm đó, thì mới áp dụng khoản, điều luật tương ứng đó. Trong trường hợp không xác định được tội phạm mà họ thực hiện không đạt thuộc khoản tăng nặng cụ thể nào của điều luật tương ứng quy định về tội phạm đó, thì áp dụng khoản nhẹ nhất của điều luật tương ứng đó.

Ví dụ 1: Một người tội phạm có tính chất chuyên nghiệp đang phá khoá để trộm cắp chiếc xe máy Dream II thì bị bắt hoặc một người chưa có tiền án, tiền sự đang trộm cắp tài sản có giá trị 100 triệu đồng thì bị phát hiện. Những người này sẽ bị xét xử theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 (điểm c hoặc điểm e).

Ví dụ 2: Một người đã bị xử phạt 6 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xoá án tích mà lại phá khoá cửa vào nhà của người khác với ý thức có tài sản gì thì lấy trộm tài sản đó, nhưng chưa lấy được tài sản gì thì bị phát hiện và bị bắt giữ. Trong trường hợp này theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì hành vi của người này đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm, nhưng không xác định được thuộc khoản tăng nặng cụ thể nào của Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; do đó, chỉ có căn cứ xét xử họ theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.

 

b- Trong trường hợp xác định được hành vi vi phạm mà người đó thực hiện không đạt vì những nguyên nhân ngoài ý muốn chủ quan của họ không có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm hoặc trong trường hợp không thể xác định được hành vi vi phạm mà họ thực hiện không đạt đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm hay chưa, thì áp dụng khoản 2 Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 1999 tuyên bố bị cáo không phạm tội mà họ đã bị truy tố.

Ví dụ 1: Nguyễn Văn B (chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, nhưng đã được xoá án tích) đang lừa đảo người khác để chiếm đoạt tài sản có giá trị 300 nghìn đồng thì bị phát hiện và bị bắt giữ. Trong trường hợp này theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì hành vi vi phạm của Nguyễn Văn B không cấu thành tội phạm; do đó, áp dụng khoản 2 Điều 89 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Điều 18 Bộ luật Hình sự năm 1999 tuyên bố Nguyễn Văn B không phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà họ đã bị truy tố

Tải về

Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP


3. Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS

7. Về tình tiết “đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” quy định tại một số điều luật của BLHS

[…]

7.3. Khi áp dụng tình tiết “đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”, cần phân biệt:

a) Trường hợp các tiền án của bị cáo đã được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm “đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” thì các tiền án đó không được tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo.

Ví dụ: D là người đã có hai tiền án đều về tội chiếm đoạt tài sản (có thể đều cùng về tội trộm cắp tài sản, có thể về tội trộm cắp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản). Sau khi ra tù, chưa được xoá án tích D lại trộm cắp tài sản có giá trị dưới năm trăm ngàn đồng, thì trong trường hợp này hai tiền án về tội chiếm đoạt tài sản được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm “đã bị kết án về tội chiếm đoạt, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” để truy cứu trách nhiệm hình sự D theo khoản 1 Điều 138 của BLHS mà không được tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với D.

 

b) Trường hợp các tiền án của bị cáo không được xem xét là dấu hiệu cấu thành tội phạm “đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” vì hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì các tiền án của bị cáo phải tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm.

Ví dụ 1: H đã bị kết án về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa chấp hành xong hình phạt, H trộm cắp tài sản có giá trị bốn trăm ngàn đồng và gây hậu quả nghiêm trọng. Trong trường hợp này tiền án về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” phải tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với H.

Ví dụ 2: K có hai tiền án về tội “cố ý gây thương tích” và tội “cướp tài sản”, đều chưa được xoá án tích lại trộm cắp tài sản có giá trị ba trăm năm mươi ngàn đồng. Trong trường hợp này tiền án về tội “cướp tài sản” được xem xét là dấu hiệu “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” để xác định cấu thành tội phạm của lần trộm cắp tài sản. Còn tiền án về tội “cố ý gây thương tích” phải tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với K.

Tải về

Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP


4. Thông tư liên tịch 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hướng dẫn áp dụng chương XIV “Các tội phạm xâm phạm sở hữu” của Bộ luật Hình sự năm 1999 do Bộ Công An; Bộ Tư pháp; Toà án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành

I. VỀ MỘT SỐ TÌNH TIẾT LÀ YẾU TỐ ĐỊNH TỘI HOẶC ĐỊNH KHUNG HÌNH PHẠT

1. Khi áp dụng tình tiết “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” quy định tại khoản 1 của các điều 137, 138, 139 và 140 BLHS cần chú ý:

1.1. Bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt”, nếu trước đó đã bị xử lý bằng một trong các hình thức sau đây về hành vi chiếm đoạt, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử lý mà lại thực hiện một trong các hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính;

b) Đã bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định của Điều lệnh, Điều lệ của lực lượng vũ trang nhân dân;

c) Đã bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định của cơ quan có thẩm quyền (Ví dụ 1: Một sinh viên trộm cắp của bạn 150.000 đồng và bị phát hiện. Hội đồng kỷ luật của Nhà trường đã xét và người có thẩm quyền đã ra quyết định cảnh cáo toàn trường hoặc đuổi học. Ví dụ 2: Một cán bộ (công chức) trộm cắp tài sản của cơ quan và bị phát hiện. Hội đồng kỷ luật của cơ quan đã xét và người có thẩm quyền đã ra quyết định kỷ luật hạ một bậc lương theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức…).

[…]

1.3. Bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” nếu trước đó đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi sau đây:

a) Hành vi cướp tài sản;

b) Hành vi bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản;

c) Hành vi cưỡng đoạt tài sản;

d) Hành vi cướp giật tài sản;

đ) Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản:

e) Hành vi trộm cắp tài sản:

g) Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; .

h) Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;

i) Hành vi tham ô tài sản;

k) Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

 

2. Bị coi là “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản” nếu trước đó đã bị kết án về một trong các tội sau dây:

a) Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS);

b) Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134 BLHS);

c) Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 BLHS);

d) Tội cướp giật tài sản (Điều 136 BLHS);

đ) Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137 BLHS);

e) Tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS);

g) Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS);

h) Tội lạm đụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS);

i) Tội tham ô tài sản (Điều 278 BLHS);

k) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280 BLHS);

Đối với các trường hợp bị kết án nhưng chưa được xoá án về một trong các tội phạm khác có tính chất chiếm đoạt tài sản (như tội chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 232 BLHS); tội chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 233 BLHS)…) có bị coi là tình tiết định tội hay không sẽ được hướng dẫn sau.

… …

III. VỀ VIỆC TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ

Trong trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội cùng loại (đều là trộm cắp tài sản; đều là lừa đảo chiếm đoạt tài sản…) nhưng tài sản bị xâm phạm là tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện như sau:

1.  Nếu tất cả các hành vi phạm tội này đều được thực hiện từ ngày 1-7-2000 trở đi, thì người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo quy định của BLHS.

Ví dụ: Ngày 5-7-2000, A trộm cắp tài sản của B trị giá 10 triệu đồng.

Ngày 15-8-2000, A trộm cắp tài sản của Sở X trị giá 20 triệu đồng. Trong trường hợp này nếu căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 30 triệu đồng, thì A phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 138 BLHS. Nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là từ 50 triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng hoặc tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt vẫn là 30 triệu đồng, nhưng có một trong những tình tiết khác định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 138 BLHS, thì A phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 138 BLHS.

 

2. Nếu trong các hành vi phạm tội này, có hành vi phạm tội được thực hiện trước ngày 1-7-2000, có hành vi phạm tội được thực hiện từ ngày 1-7-2000 trở đi, thì người phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo quy định của BLHS. Tuy nhiên, khi xét xử các Toà án cần xem xét đến quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 (sau đây viết tắt là BLHS 1985) về tội phạm tương ứng để nếu theo quy định của Điều 7 BLHS mà BLHS 1985 có quy định khác có lợi hơn cho người phạm tội thì áp dụng tinh thần quy định đó khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội.

 

3. Nếu tất cả các hành vi phạm tội này đều được thực hiện trước ngày 1-7-2000, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện như sau:

3.1. Theo khoản 1 của điều luật tương ứng của BLHS, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 1 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu và theo BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân.

Ví dụ: Tháng 6-1999 Q phạm tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 5 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 132 BLHS 1985. Tháng 10-1999 Q phạm tội trộm cắp tài sản của công dân trị giá 10 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 155 BLHS 1985. Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 15 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 138 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS, thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Q về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

 

3.2. Theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân của BLHS 1985, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với từng tội cần chú ý để khi tổng hợp hình phạt thì hình phạt chung không được vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 của Điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu. .

Ví dụ: Tháng 10-1999 C phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 40 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 134 BLHS 1985. Tháng 2-2000, C phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân trị giá 40 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 157 BLHS 1985. Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 80 triệu đồng thuộc điểm e khoản 2 Điều 139 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 7 BLHS, thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với C theo khoản 1 Điều 134 và theo khoản 1 Điều 157 BLHS 1985 .

 

3.3. Theo khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu và theo BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân.

Ví dụ: Tháng 5-1999 H phạm tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 80 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 132 BLHS 1985. Tháng 8-1999 H lại phạm tội trộm cắp tài sản của công dân trị giá 100 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 155 BLHS 1985. Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 180 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 138 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS, thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS.

 

3.4. Theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân của BLHS 1985, nếu tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt thuộc khoản 3 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với từng tội, cần chú ý để khi tổng hợp hình phạt thì hình phạt chung không vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu.

Ví dụ: Tháng 3-1999, T phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 120 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 134 BLHS 1985. Tháng 7-1999, T lại phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân trị giá 100 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 157 BLHS 1985. Trong trường hợp này, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 220 triệu đồng thuộc điểm a khoản 3 Điều 139 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 7 BLHS, thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T theo khoản 2 Điều 134 và theo khoản 2 Điều 157 BLHS 1985.

 

3.5. Theo khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS, nếu tính tổng giá trị tài sản chiếm đoạt thuộc khoản 2 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu và theo BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân hoặc ngược lại.

Ví dụ : Tháng 1-1999, D trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 10 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 132 BLHS 1985. Tháng 9-1999, D lại trộm cắp tài sản của công dân trị giá 90 triệu đồng thuộc khoản 2 Điều 155 BLHS 1985. Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 100 triệu đồng thuộc điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS, thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS.

 

3.6. Theo khoản 1 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và theo khoản 2 của điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu của công dân của BLHS 1985 (hoặc ngược lại) nếu tổng giá trị tài sản chiếm đoạt thuộc khoản 3 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với từng tội, cần chú ý để khi tổng hợp hình phạt thì hình phạt chung không vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 3 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu.

Ví dụ : Tháng 12- 1998 V phạm tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa trị giá 30 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 132 BLHS 1985. Tháng 3-1999 V lại phạm tội trộm cắp tài sản của công dân trị giá 220 triệu đồng. Trong trường hợp này tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 250 triệu đồng thuộc điểm a khoản 3 Điều 138 BLHS; do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 7 BLHS thì vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với V theo khoản 1 Điều 132 và khoản 2 Điều 155 BLHS 1985.

 

3.7. Theo khoản 4 của điều luật tương ứng của BLHS quy định về tội xâm phạm sở hữu trong trường hợp các hành vi phạm tội theo quy định của BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 và khoản 3 hoặc khoản 1 và khoản 3 của hai điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và tội xâm phạm sở hữu của công dân, nếu không thuộc trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục 3.8 Mục 3 này.

 

Trong trường hợp này khi quyết định hình phạt cần chú ý:

a) Chỉ xử phạt người phạm tội mức án tù có thời hạn nếu truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội của hai điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và tội xâm phạm sở hữu của công dân, thì theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt chỉ có thể xử phạt người phạm tội mức án cao nhất là tù có thời hạn, nhưng nếu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm sở hữu theo khoản 4 của điều luật tương ứng của BLHS, thì theo tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải xử phạt người phạm tội mức án tù chung thân.

b) Chỉ xử phạt người phạm tội mức án tù chung thân nếu truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội của hai điều luật tương ứng quy định về tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và tội xâm phạm sở hữu của công dân, thì theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt chỉ có thể xử phạt người phạm tội mức án cao nhất là tù chung thân, nhưng nếu truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm sở hữu theo khoản 4 của điều luật tương ứng của BLHS, thì theo tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải xử phạt người phạm tội mức án tử hình.

 

3.8. Trường hợp các hành vi phạm tội mà theo quy định của BLHS 1985 thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 và khoản 3 hoặc khoản 1 và khoản 3 của hai điều luật tương ứng quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa và tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội được thực hiện tương tự như hướng dẫn tại các tiểu mục 3.5 và 3.6 Mục 3 này.

Tải về

Thông tư liên tịch 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP


5. Bản án số 01/2025/HS-ST Ngày 08/7/2025 của TAND Khu vực 18 thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt trích yếu

Hành vi phạm tội: Ngày 18/8/2023, tại phường Chánh Phú Hòa (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh), Trương Thanh Q đã dùng thủ đoạn gian dối đặt mua bia của bà Phạm Thị Bích S, sau đó chiếm đoạt: 160 thùng bia Tiger nâu Trị giá: 55.520.000 đồng. Hành vi của bị cáo cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 06 năm tù tại Bản án số 33/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TAND huyện Định Quán (nay là TAND Khu vực 7 – Đồng Nai). Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 09 năm tù, thời hạn tính từ ngày 28/02/2024.

Tải về

Bản án số 01/2025/HS-ST 


6. Bản án số 13/2024/HS-ST Ngày 20/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum

Tóm tắt trích yếu

Hành vi phạm tội: Lê Thanh H đã đưa ra thông tin gian dối về việc có thể giúp Nguyễn Văn Ú được hoãn thi hành án phạt tù, yêu cầu chuyển tiền để “lo việc”. Bị hại đã chuyển cho H tổng số tiền 17.000.000 đồng (02 lần chuyển khoản). Sau khi nhận tiền, bị cáo không thực hiện được việc hoãn thi hành án, có hành vi trốn tránh và sử dụng tiền vào mục đích cá nhân. Hành vi cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt: 12 tháng cải tạo không giam giữ. Được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam (64 ngày tương ứng 06 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ). Thời gian còn lại phải chấp hành: 05 tháng 18 ngày cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập và miễn hình phạt bổ sung.

Tải về

Bản án số 13/2024/HS-ST


7. Bản án số 191/2021/HS-ST Ngày 24/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Tóm tắt trích yếu

Hành vi phạm tội:  Lê Mạnh C do không có tiền tiêu xài đã nảy sinh ý định giả danh công an để chiếm đoạt tài sản của người lái xe ôm. Ngày 24/5/2021, C giả danh công an, tạo lòng tin với anh Dương Gia H rồi mượn điện thoại Redmi Note 10 trị giá 3.800.000 đồng, sau đó lợi dụng sơ hở bỏ chạy để chiếm đoạt thì bị bắt quả tang.

Trước đó, ngày 22/5/2021, C cũng dùng thủ đoạn gian dối mượn điện thoại Xiaomi Mi A3 trị giá 1.200.000 đồng của một người tên Việt rồi chiếm đoạt.

Hành vi của bị cáo cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Tuyên bố: Bị cáo Lê Mạnh C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt: 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ 09 ngày tạm giữ (24/5/2021 – 02/6/2021). Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền).

Tải về

Bản án số 191/2021/HS-ST


8. VKSND cấp cao tại Đà Nẵng thông báo rút kinh nghiệm vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Những nội dung cần rút kinh nghiệm:

– Xác định đầy đủ người tham gia tố tụng: Khi giải quyết phần trách nhiệm dân sự phải xác định chính xác những cá nhân đã nhận tiền do phạm tội mà có để đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Việc không đưa ông Q, bà X, bà H và ông A vào vụ án là thiếu sót nghiêm trọng.

– Giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự: Phải làm rõ dòng tiền bị chiếm đoạt đã được sử dụng, chuyển dịch cho ai, số tiền bao nhiêu để xác định đúng nghĩa vụ hoàn trả; tránh tuyên buộc bị cáo bồi thường toàn bộ trong khi một phần tiền đã được chuyển cho người khác.

– Áp dụng pháp luật: Cần tuân thủ đúng quy định tại khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 BLHS và điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS về xử lý vật chứng, thu hồi tài sản do phạm tội mà có; đảm bảo việc thu hồi trả lại cho bị hại đúng quy định.

– Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên: Việc xác định thiếu người liên quan ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bị hại và có thể làm phát sinh tranh chấp dân sự sau này.

– Nâng cao chất lượng kiểm sát xét xử: Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ hồ sơ, đặc biệt là chứng cứ về dòng tiền trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, để kịp thời phát hiện thiếu sót và thực hiện quyền kháng nghị khi cần thiết.

Tải về

VKSND cấp cao tại Đà Nẵng thông báo rút kinh nghiệm vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản


9. Thông báo rút kinh nghiệm số 21/TB-VC3-V1 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tối cao

Những nội dung cần rút kinh nghiệm:

– Về việc bỏ lọt đồng phạm: Cấp sơ thẩm chưa xem xét xử lý Nguyễn Thanh Hằng về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” với vai trò đồng phạm, mặc dù Hằng biết rõ giấy tờ là giả nhưng vẫn cùng Phượng sử dụng để ký hợp đồng chiếm đoạt tài sản. Đây là dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

– Trong việc áp dụng pháp luật hình sự theo thời điểm có hiệu lực: Hành vi phạm tội xảy ra trước khi BLHS 2015 có hiệu lực nhưng cấp sơ thẩm lại áp dụng Điều 341 BLHS 2015 là không chính xác, gây bất lợi cho bị cáo. Cần áp dụng đúng quy định của BLHS 1999 theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội (Nghị quyết 41/2017/QH14).

– Xác định tình tiết định khung: Đối với tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 267 BLHS 1999 (phạm tội nhiều lần) thay vì vận dụng quy định bất lợi hơn.

– Xác định số tiền chiếm đoạt thực tế: Cần làm rõ trong tổng số tiền bị chiếm đoạt có bao gồm tiền vay, tiền lãi đã thỏa thuận trước đó hay không; phải đối chiếu với Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP để xác định lãi suất hợp pháp, từ đó tính đúng số tiền bị chiếm đoạt.

-Đánh giá toàn diện hành vi của các bị cáo: Phải xem xét đầy đủ mối quan hệ đồng phạm, vai trò từng người, toàn bộ chuỗi hành vi làm giả và sử dụng giấy tờ giả để tránh sai sót trong định tội, truy tố và xét xử.

Thông báo rút kinh nghiệm số 21/TB-VC3-V1


10. Thông báo rút kinh nghiệm số 111/TB-VKSTC ngày 21/5/2021 rút kinh nghiệm vụ án Nguyễn Đức Trí và đồng phạm, về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Những nội dung cần rút kinh nghiệm:

– Sai sót trong việc xác định vật chứng của vụ án: Số tiền 18,8 tỷ đồng bà Ngô Thị Bích Toàn giữ lại có nguồn gốc từ tiền phạm tội mà Nguyễn Đức Trí chiếm đoạt của Agribank. Số tiền này được sử dụng để mua nhà đất tại Đà Nẵng nên phải xác định là vật chứng của vụ án, cần kê biên để bảo đảm thi hành án theo điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS.

– Sai sót của Tòa án cấp phúc thẩm: Cho rằng giao dịch giữa Trí và bà Toàn là quan hệ dân sự. Tách phần quan hệ mua bán thành vụ án khác và giải tỏa kê biên tài sản. Việc này vi phạm quy định về xử lý vật chứng theo Điều 47 BLHS.

– Thiếu sót của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm: Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, không phát hiện và không kịp thời kháng nghị vi phạm của Tòa án cấp phúc thẩm.

Tải về

Thông báo rút kinh nghiệm số 111/TB-VKSTC


11. Thông báo rút kinh nghiệm số 894/TB-VKSTC rút kinh nghiệm vụ án hình sự đã xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm

Những nội dung cần rút kinh nghiệm:

– Lãnh đạo, Kiểm sát viên đánh giá chứng cứ không đầy đủ, còn để lọt tội phạm và người phạm tội trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án. Có dấu hiệu các tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, “Đưa hối lộ”, “Nhận hối lộ” nhưng chưa được điều tra, xử lý. Hành vi của Nguyễn Mạnh Tiến có dấu hiệu tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” nhưng không được điều tra, xử lý.

– Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ thẩm còn bị động trong xử lý tình huống tranh tụng. Không kịp thời đề nghị Hội đồng xét xử làm rõ các nội dung liên quan đến yếu tố chủ thể của tội danh đối với Phan Ngọc Thụy.

– Tòa án sơ thẩm tuyên mức án còn nhẹ nhưng Viện kiểm sát không kháng nghị hoặc báo cáo kháng nghị kịp thời. Mức hình phạt 15 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Phi Phượng chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội. Viện kiểm sát cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không kháng nghị hoặc không báo cáo kháng nghị giám đốc thẩm về mức hình phạt.

Tải về

Thông báo rút kinh nghiệm số 894/TB-VKSTC


12. Công văn 50/TANDTC-PC năm 2020 xử lý hình sự người sử dụng tài liệu giả để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản do Tòa án nhân dân tối cao ban hành

Sau khi nghiên cứu Công văn số 94/TA-KTNV ngày 02-4-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang trao đổi về việc xử lý hình sự đối với người có hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

Hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (như sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả…) để chuyển nhượng, mua bán, cầm cố, thế chấp… nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là dấu hiệu đặc trưng trong mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đây cũng là hành vi khách quan của tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Mục 2 Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 01-10-2019 của Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp người thực hiện một hành vi phạm tội nhưng thỏa mãn dấu hiệu cấu thành của nhiều tội thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn. Do đó, trường hợp người có hành vi sử dụng giấy tờ, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì bị xử lý hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cũng cần lưu ý rằng, trường hợp này khác với trường hợp làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng giấy tờ, tài liệu đó để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tải về

Công văn 50/TANDTC-PC

Khi nào phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?
 

Những điều cần biết về các yếu tố cấu thành của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Những điều cần biết về các tiền tố cấu thành của lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Với sự phát triển của công nghệ thông tin và số lượng người sử dụng các mạng xã hội xã hội tăng nhanh như hiện nay, tình trạng lừa đảo chiếm tài sản diễn đàn rất phổ biến và ngày càng tinh vi. Lừa đảo chiếm tài sản là hành vi vi phạm của tội phạm dùng thủ thủ gian dối để chủ sở hữu, người quản lý tài sản và giao tài sản cho tội phạm để chiếm tài sản đó. Bài viết dưới đây của Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam sẽ cung cấp những kiến thức cần thiết về các loại yếu tố cấu thành của Tội lừa đảo chiếm tài sản.

Khách hàng truy tố tội phạm.

Về hành vi vi khách quan: (1) Hành vi vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm chiếm tài sản của người khác mà ngay lúc đó, người bị hại không biết được có hành vi gian dối; (2) Sử dụng thủ đoạn lừa dối được đưa ra thông tin giả, không đúng với sự thật nhưng khiến kẻ bị lừa dối tin đó là thật và giao tài sản cho kẻ phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động, bằng hình ảnh…hoặc kết hợp bằng nhiều cách khác nhau.

Về hậu quả: Hậu quả của tội lừa đảo chiếm tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ có thể là giá trị tài sản chiếm đoạt. Khoang 1 của điều luật định giá tài sản có giá trị chiếm giữ từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu hình thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm giữ dưới 2.000.000 đồng thì phải đính kèm điều kiện đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi sử dụng số hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này chưa được xóa các dự án còn vi phạm hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị tổn hại và gia đình họ. Nhưng không vì thế mà cho rằng, phải bị tổn hại về tài sản (người phạm tội chiếm đoạt tài sản) thì mới cấu thành tội phạm.

Về mối quan hệ nhân quả: Cũng như những tội có cấu thành chất khác, hậu quả và hành vi khách hàng của tội phạm có mối quan hệ nhân quả với nhau. Hậu quả thiệt hại về tài sản phải được phát hiện từ hành vi lừa dối. Nếu bị tổn hại về tài sản của các nguyên nhân khác thì sẽ dựa vào những dấu hiệu khách hàng để xác định xem có dấu hiệu của tội phạm không và được pháp luật điều chỉnh như thế nào.

Mặt tội phạm chủ yếu

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố gắng trực tiếp, tội phạm đã xác định rõ hành vi của nguy hiểm xã hội của mình, được tìm thấy trước hậu quả do hành vi của mình gây ra và mong muốn hậu quả xảy ra.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có chất chiếm đoạt, cố ý phạm lỗi của chủ nhà, mục đích là mong muốn chiếm đoạt tài sản sở hữu thuộc sở hữu của người bị xâm hại. Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Nếu sau khi đã có tài sản một cách hợp pháp, ngay rồi mới có ý định chiếm đoạt tài sản thì không phải là hành vi lừa đảo chiếm tài sản, tùy trường hợp cụ, kẻ phạm tội có thể được truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác như tội phạm sử dụng trách nhiệm sử dụng tài sản . Thực tế công việc chứng minh ý thức chiếm số tiền của người phạm tội thường căn cứ vào tài sản thực tế, tình trạng tài sản chính, nhu cầu tài sản của người phạm tội kết hợp với lời khai nhận của người phạm tội như thế nào. Thông thường trước khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị rơi vào hoàn cảnh nợ nần làm thua cờ, bạc, lô đề, kinh doanh…, không có khả năng trả nợ cho chủ nợ nên yên lặng sinh định định sử dụng tài sản bạc.

Khách hàng có thể truy tố tội phạm

Khách lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đối tượng hoạt động của tội phạm này là tài sản, bao gồm vật, tiền. Việc xâm phạm quyền sở hữu cũng có thể thực hiện ở hành vi sử dụng bất hợp pháp tài sản của người khác sau khi lừa đảo để lấy tài sản.

Khách phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như tội phạm chiếm đoạt tài sản khác, nhưng lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một tội phạm khác với tội cướp tài sản, tội cướp tài sản, điều này có thể gây ra tội phạm lừa đảo tài sản, nhà làm luật pháp không nguy hiểm, là tình tiết khung hình. Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt tiền được tài sản, tội phạm giết thú bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tùy từng trường hợp cụ có thể mà người phạm tội còn phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc cố gắng gây thương tích khủng khiếp hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

Mặt sau của tội phạm

Chủ thể tội phạm có thể là bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm. Theo quy định tại Điều 12 Luật Bộ Hình sự về tuổi cam đảm trách nhiệm thì chống lừa đảo chiếm đoạt tài sản tài sản, chủ thể của tội phạm không phải là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Tức là nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải cam chịu trách nhiệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chỉ có người trên 16 tuổi mới phải cam chịu trách nhiệm về việc này.

Tội lừa đảo có được án treo không?

1. Án treo là gì?

Để hiểu đúng về chế định án treo, cần phải nắm rõ bản chất pháp lý cốt lõi của nó. Theo các quy định hiện hành, án treo được định nghĩa là một "biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện" được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị xử phạt tù không quá 03 năm. Điều này có nghĩa là Tòa án vẫn tuyên một bản án tù có thời hạn đối với bị cáo, nhưng quyết định tạm thời cho họ không phải chấp hành hình phạt đó tại trại giam. Quyết định này đi kèm với một khoảng thời gian thử thách do Tòa án ấn định, thường kéo dài từ 01 đến 05 năm.   

Một người được hưởng án treo vẫn là người đã bị Tòa án kết tội và tuyên án. Quyết định cho họ được hưởng án treo chỉ là một biện pháp "chấp hành có điều kiện" thay cho việc chấp hành án tại trại giam. Điều này đảm bảo rằng bị cáo vẫn chịu sự quản lý, giám sát và có thể bị buộc chấp hành hình phạt tù đã tuyên bất cứ lúc nào nếu họ vi phạm nghĩa vụ đã cam kết hoặc phạm tội mới. Cơ chế này vừa tạo cơ hội cho người phạm tội sửa chữa lỗi lầm, vừa duy trì tính răn đe và sự nghiêm minh của pháp luật. Việc hiểu đúng bản chất này giúp người dân và người bị kết án phân biệt rõ ràng án treo không phải là "thoát tội" hay "vô tội.

2. Điều kiện hưởng án treo Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

2.1. Hình phạt tù không vượt quá 03 năm

Điều kiện đầu tiên và bắt buộc để một người được xem xét hưởng án treo là mức hình phạt tù mà Tòa án tuyên không được vượt quá 03 năm. Đây là giới hạn pháp lý đầu tiên mà Hội đồng xét xử phải tuân thủ. Mức hình phạt này cũng ngầm định tính chất của tội phạm.  

Đối với tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" (Điều 174 BLHS), mức hình phạt được chia thành nhiều khung khác nhau tùy thuộc vào giá trị tài sản chiếm đoạt và các tình tiết định khung khác. Do đó, để đáp ứng điều kiện này, bị cáo thường phải phạm tội ở khung 1 (khung hình phạt đến 03 năm tù) hoặc được Tòa án áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để đưa mức án xuống dưới 03 năm. Điều này cho thấy án treo thường được áp dụng cho những vụ việc có tính chất và mức độ nguy hiểm không quá nghiêm trọng.

2.2. Điều kiện về nhân thân: tốt và có địa chỉ rõ ràng

2.2.1. Nhân thân tốt theo quy định của pháp luật

Một trong những điều kiện quan trọng nhất để được hưởng án treo là người phạm tội phải có nhân thân tốt. "Nhân thân tốt" được hiểu là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.  

Tuy nhiên, pháp luật cũng có những quy định linh hoạt. Người đã từng bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích hoặc đã được xóa án tích vẫn có thể được xem xét hưởng án treo. Điều này cho thấy pháp luật Việt Nam tạo cơ hội cho những người đã có sai lầm trong quá khứ được làm lại cuộc đời, không bị đánh giá dựa trên những tiền án đã được xóa bỏ.  

2.2.2. Có ơi cư trú hoặc nơi làm việc ổn định

Người phạm tội phải có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có thể giám sát, giáo dục họ trong thời gian thử thách. Nơi cư trú rõ ràng được xác định là nơi thường trú hoặc tạm trú với địa chỉ cụ thể, trong khi nơi làm việc ổn định là nơi người đó làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ 01 năm trở lên.  

 

Mặc dù đây là một điều kiện khách quan, việc xác định "nơi cư trú rõ ràng" vẫn còn nhiều vướng mắc trong thực tiễn. Ví dụ, đối với những người lao động tự do, không thường xuyên có mặt tại địa phương đăng ký hộ khẩu, việc đánh giá họ có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân hay không trở nên khó khăn. Sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng điều kiện này có thể dẫn đến những quyết định khác nhau giữa các Tòa án, gây ra sự thiếu công bằng trong xét xử.

2.3. Phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ

Bên cạnh các điều kiện tiên quyết về mức hình phạt và nhân thân, người phạm tội còn phải có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên. Trong đó, ít nhất một tình tiết phải thuộc quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Điều này cho thấy, để được hưởng án treo, người phạm tội không chỉ cần đáp ứng các điều kiện khách quan mà còn phải có những hành vi, thái độ tích cực sau khi phạm tội để chứng minh khả năng cải tạo của mình.  

2.4. Bồi thường thiệt hại

Trong các vụ án liên quan đến tội phạm xâm phạm sở hữu, đặc biệt là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc bồi thường thiệt hại có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Về mặt pháp lý, đây là một tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS, cụ thể là "người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả". 

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một tội phạm có cấu thành vật chất, tức là hậu quả thiệt hại về tài sản là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm. Do đó, việc bồi thường thiệt hại không chỉ là một hành vi giảm nhẹ thông thường mà còn là hành động trực tiếp giải quyết vấn đề cốt lõi của tội phạm. Khi người phạm tội đã khắc phục hậu quả, họ đã phần nào khôi phục lại trật tự xã hội và quyền lợi của người bị hại đã bị xâm phạm. Hành động này được xem là một minh chứng rõ ràng nhất cho thái độ ăn năn, hối cải. Tòa án coi việc bồi thường là một thước đo đáng tin cậy để đánh giá khả năng tự cải tạo của người phạm tội. Việc bồi thường toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại trước thời điểm tuyên án có trọng lượng rất lớn trong quyết định của Hội đồng xét xử.  

2.5. Các tình tiết giảm nhẹ khác

Bên cạnh việc bồi thường thiệt hại, các tình tiết khác cũng thường được Tòa án xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bao gồm:

  • Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải.  
  • Người phạm tội tự thú, tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm.  

Thái độ hợp tác của bị cáo trong quá trình điều tra và xét xử là cơ sở để Tòa án đánh giá về khả năng "phục thiện" của họ. Điều này cho thấy sự tương tác giữa bị cáo, cơ quan điều tra và Tòa án có ảnh hưởng lớn đến phán quyết cuối cùng. Một người phạm tội thể hiện sự hợp tác từ đầu, khai báo trung thực và giúp đỡ cơ quan chức năng sẽ được xem xét một cách tích cực hơn.

2.6. Trường hợp khác

Pháp luật Việt Nam cũng quy định rõ những trường hợp người phạm tội không được xem xét cho hưởng án treo, ngay cả khi họ đáp ứng đủ các điều kiện khác. Điều này được quy định tại Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP) và bao gồm: 

  • Người phạm tội là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, có tính chất côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.  
  • Người phạm tội bỏ trốn và đã bị truy nã.  
  • Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách.  
  • Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ trường hợp người dưới 18 tuổi hoặc các tội ít nghiêm trọng.  
  • Người phạm tội tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.  

Trong bối cảnh tội lừa đảo, việc phân tích yếu tố "có tính chất chuyên nghiệp" là rất quan trọng. Theo quy định, tình tiết này chỉ được áp dụng khi người phạm tội cố ý thực hiện hành vi từ 05 lần trở lên về cùng một tội danh và lấy kết quả từ các lần phạm tội đó làm nguồn sống chính. Điều này cho thấy có sự phân biệt rõ ràng giữa "phạm tội nhiều lần" và "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp," giúp Tòa án đưa ra quyết định chính xác hơn.

3.  Các vụ án điển hình

Thực tiễn xét xử cho thấy việc áp dụng án treo đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố.

Các bản án công khai cho thấy nhiều vụ án lừa đảo đã được Tòa án tuyên án treo, chủ yếu do người phạm tội đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nhân thân, mức án, và đặc biệt là có tình tiết giảm nhẹ như tự nguyện bồi thường thiệt hại.

  • Bản án số 108/2023/HSST ngày 08/05/2023 của Tòa án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột đã tuyên phạt bị cáo Lương Xương N 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.  
  • Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 15/01/2025 của TAND tỉnh Bình Dương, các bị cáo Trương Thị H2 và Nguyễn Mậu T3 bị tuyên phạt 02 năm tù và được hưởng án treo với thời gian thử thách 04 năm. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng bản án này tuyên phạt các bị cáo với tội danh "Bắt, giữ người trái pháp luật," không phải "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Dù vậy, nó vẫn minh họa cho việc Tòa án áp dụng án treo đối với những người phạm tội có mức độ ít nghiêm trọng.  

Một ví dụ điển hình về rủi ro pháp lý là vụ án của bị cáo Trần Thị Thủy. Mặc dù đang trong thời gian thi hành bản án treo 3 năm về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản," Thủy lại tiếp tục thực hiện 40 vụ lừa đảo khác, chiếm đoạt gần 25 tỷ đồng. Hành vi này cho thấy người phạm tội đã không có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo ban đầu đã không đạt được mục đích giáo dục. Hậu quả pháp lý là Thủy sẽ bị buộc phải chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của các tội mới, cho thấy sự nghiêm minh của pháp luật trong các trường hợp tái phạm.

4. Kết luận

Chế định án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam là một cơ chế phức tạp nhưng tinh tế, thể hiện sự cân bằng giữa tính khoan hồng và tính răn đe. Việc Tòa án quyết định cho hưởng án treo không chỉ dựa trên việc thỏa mãn các điều kiện khách quan như mức hình phạt và nhân thân, mà còn phụ thuộc lớn vào sự đánh giá chủ quan của Hội đồng xét xử về thái độ ăn năn, khả năng tự cải tạo và mức độ nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội. Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc khắc phục hậu quả thông qua bồi thường thiệt hại được coi là một "chìa khóa vàng." Hành vi này không chỉ đáp ứng một trong các tình tiết giảm nhẹ theo luật định mà còn là minh chứng rõ ràng nhất cho sự ăn năn, hối cải, từ đó tạo niềm tin cho Tòa án về khả năng cải tạo của người phạm tội. Để hoàn thiện hơn nữa chế định này, các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết và cụ thể hơn, đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật trên toàn quốc, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục và phòng ngừa tội phạm của án treo.  

LS TRẦN MINH HÙNG