BÀI BẢO VỆ CHO BÀ TRẦN THỊ CHÍN TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN CẤP CAO TẠI TPHCM DO BẢN ÁN SƠ THẨM SỐ 140/HC-ST NGÀY 8/5/2024 BỊ KHÁNG CÁO.
Tôi luật sư Trần Minh Hùng – Đoàn LS TPHCM.
Tôi kính mong Qúy tòa chấp nhận đơn kháng cáo bà Chín, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận đơn khởi kiện bà Chín vì những lý do sau :
Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và UBND thành phố Không thể căn cứ theo Điều 1 NQ 23/2003/NQ-QH ngày 26/11/2003 của QH về nhà đất do Nhà nước quản lý để bác yêu cầu xin giao trả lại nhà cho bà Chín. (công văn số 5110/UBND-NCPC ngày 30/12/2020 trả lời của UBTP)
“ Nhà nước không xem xét lại chủ trương, chính sách và việc thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất đã ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 1991.
Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất.”
Theo quy định trên, Nhà nước không xem xét lại, không thừa nhận việc đòi lại nhà đất khi nhà đất thuộc diện thực hiện các chính sách quy định tại điều 2 Nghị quyết số 23/2003/QH11 này.
Tuy nhiên, căn nhà của bà Chín không nằm trong các chính sách mà Nhà nước được phép quản lý như tại Điều 2 NQ 23/2003/NQ-QH ngày 26/11/2003 bởi lẽ:
Một, Nhà bà Chín không thuộc diện cải tạo công nghiệp tư bản năm 1978
Trước năm 1978, ông Trần Văn Tám (là cha của bà Chín) đứng tên môn bài kinh doanh ngành hớt tóc tại tầng trệt và ngành khách sạn (12 phòng). Còn bà Chín, đứng tên môn bài kinh doanh ngành may mặc tại tầng trệt.
Việc này, được làm rõ trong các văn bản sau:
1/ Công văn số 147/CV-UB ngày 11/4/1992 của UBND quận 5 (giải quyết khiếu nại)
2/ Công văn số 283/VP-BCT ngày 14/11/1992 của Ban cải tạo công thương nghiệp TP.HCM
3/ Công văn số 36/VP-BCT ngày 9/2/1993 của Ban cải tạo công thương nghiệp TP.HCM
Tất cả các văn bản trên đều có nội dung xác định rõ căn nhà trên “ không thuộc diện cải tạo tư sản thương nghiệp ngày 23/03/1978” ngành may và cũng không có quyết định nào là nhà bà Chín thuộc diện cải tạo hoặc thanh lý căn nhà.
Đồng thời, nhà bà Chín không nằm trong các chính sách tại khoản 2 Mục II của QĐ 100/QĐ-CP ngày 12/4/1977 của HDDCP về ban hành chính sách cải tạo XHCN đối với thương nghiệp tư nhân ở các tỉnh phía Nam.
Viện dẫn: khoản 2
- Chính sách cụ thể:
- Đối với các cơ sở kinh doanh thương nghiệp của Mỹ nguỵ, của tư sản mại bản, của tư sản có tội đã bỏ trốn ra nước ngoài, của bọn nguỵ quân, nguỵ quyền có nhiều tội ác, của tư sản gian thương lớn, thì tịch thu và tổ chức thành quốc đoanh.
- Đối với các cơ sở kinh doanh thương nghiệp vắng chủ, mà không có người thừa kế hợp pháp, hoặc người đang quản lý không có đủ giấy uỷ quyền hợp pháp, thì Nhà nước trực tiếp quản lý, sau này khi người chủ về, Nhà nước sẽ tuỳ từng trường hợp cụ thể mà giải quyết theo chính sách chung.
- Đối với một số người muốn xin hiến tài sản cho Nhà nước, sẽ xét và chấp nhận cho hiến theo đúng tinh thần quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 434/TTg ngày 30 tháng 10 năm 1976.
- Có thể trưng thu hoặc trưng mua những cơ sở và phương tiện kinh doanh còn tốt của tư sản thương nghiệp. Số tiền trưng mua sẽ được Nhà nước chuyển qua Ngân hàng Nhà nước và trả dần trong một số năm, tuỳ theo nhu cầu hợp lý về vốn để sản xuất và sinh hoạt của từng hộ tư sản.
Thương nghiệp quốc doanh có thể lựa chọn để sử dụng một số nhà tư sản có kỹ thuật và nghiệp vụ quản lý kinh doanh, trước đây quan hệ tốt với cách mạng và hiện nay có thái độ tuân thủ và chấp hành các chính sách, luật pháp của Nhà nước.
- Đối với các công nhân, người bán hàng đang làm thuê cho các nhà tư sản thương nghiệp, Nhà nước sẽ tuyển dụng vào làm trong mạng lưới thương nghiệp quốc doanh.
Hai, Nhà bà Chín không phải nhà vắng chủ
Tháng 3 năm 1978, UBND quận 5 tiến hành kiểm kê tài sản và quản lý phương tiện kinh doanh theo QĐ số 11/QĐ-UB ngày 5/4/1978 để làm nhà ở cho Công nhân xí nghiệp dệt mặc dù gia đình bà Chín đang sinh sống trực tiếp tại căn nhà này.
Ngày 16/04/2001, UBND Thành phố ban hành QĐ 172/QĐ-UB về việc xác lập quyền sở hữu của nhà nước với căn nhà nói trên thuộc diện “Nhà vắng chủ”. Tuy nhiên, bà Chín đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đăng ký kê khai nhà đất trên từ tháng 8/1999 đến tháng 12/2003. Như vậy, bà Chín đã kê khai nhà đất từ trước và đến sau cả thời điểm UBND TP ban hành quyết định 172. Theo quy định, Khi có chủ sở hữu kê đăng ký đất đai rõ ràng liên tục trong nhiều năm thì không phải là nhà vắng chủ.
Căn cứ theo Thông tư 201-BXD/TT ngày 23/6/1978 của Bộ Xây dựng hướng dẫn việc quản lý nhà, đất vắng chủ ở các tỉnh phía nam, quy định tại mục I thì Nhà vắng chủ là : “Nhà đất vắng chủ ở miền Nam là nhà đất từ khi giải phóng miền Nam, người đứng tên sở hữu không có mặt ở địa phương không có lý do chính đáng và cũng không đăng ký cư trú tại một nơi nào trên lãnh thổ nước Việt Nam…”
Dẫn chứng:
+ Theo nội dung Biên bản thực địa ngày 28/7/2015 của Trung Tâm đo đạc Bản đồ - Sở Tài nguyên và môi trường xác nhận : “thực hiện đo đạc hiện trạng vị trí tại căn nhà 114 Châu Văn Liêm Phường 11 Quận 5 …… chưa thực hiện đo đạc vì đương sự bà Trần Thị Chín không cho vào căn nhà để đo vẽ”. Qua đó, căn nhà trên không phải nhà vắng chủ.
+ Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương VN có công văn 4311/CV-CN ngày 20/10/2011 “danh sách nhận tiền vắng chủ lâu ngày không nhận tại chi nhánh ngân hàng q5 không có tên của của ông Trần Văn Tám”
+ Ngày 9/2/1993, Ban cải tạo công nghiệp TPHCM ban hành CV số 36/VP-BCT gửi UBND TP về việc giải quyết khiếu nại của gia đình bà Chín trong đó có xác nhận “Tại thời điểm cải tạo thương nghiệp tháng 3/1978, ngày 16/5/1978 UBND phường 5 quận 10 đến đóng chốt và buộc gia đình rời khỏi nhà nên đương sự buộc phải rời khỏi nhà sống tại Củ Chi” …. Do đó, gia đinh bà Chín là bị cưỡng chế rời khỏi nhà để kiểm kê và chứ không phải nhà vô chủ theo như tờ trình vào ngày 16/4/2001 của UBND q5.
Đồng thời, ngày 13/3/2001, bà Chín đứng tên kê khai căn nhà trên có sự xác nhận của Chủ tịch UBND phường 11 Q5 vào ngày 19/9/1999.
Bà Chín khiếu nại từ 1978 đến nay, có đầy đủ hồ sơ khiếu nại trong vụ án, bà Chín bị cưỡng chế đi sản xuất, không phải vắng chủ, việc liên tục khiếu nại đòi nhà cho thấy bà Chín không thuộc trường hợp nhà vắng chủ, lưu ý bà Chín bị cưỡng chế chứ không phải vắng chủ, bà Chín từ 1978 đến nay vẫn ở HCM và liên tục khiếu nại đòi nhà.
Như vậy, căn nhà này có nguồn gốc sở hữu rõ ràng, có chủ sở hữu đang sinh sống trực tiếp liên tục nhiều năm, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai nên không nằm trong diện Nhà vô chủ.
Thứ ba:
Theo quy định pháp luật, Nhà nước cần phải căn cứ vào hiện trạng và mục đích sử dụng nhà đất mà Nhà nước đã xác lập sở hữu toàn dân. Nên việc xác nhận nhà vắng chủ là không có cơ sở pháp lý va sai quy định, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp và quyền sở hữu hợp pháp của bà Chín
(trích dẫn lấy ý để diễn giải theo khoản 2 Điều 3 NĐ127/2005/NĐ-CP ngày 10/10/2005 của CP về hướng dẫn thực hiện NQ23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 và NQ755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 2/4/2005
Điều
3. Thủ tục pháp lý xác lập sở hữu toàn dân đối với các loại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng theo các chính sách quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số
23/2003/QH11, khoản 2 Điều 5, Điều 6 và khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số
755/2005/NQ-UBTVQH11 được thực hiện như sau:
1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan có chức năng thống kê, rà soát và tổng hợp danh sách các loại nhà đất thuộc diện phải hoàn thành thủ tục pháp lý xác lập sở hữu toàn dân trên địa bàn và trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định xác lập sở hữu toàn dân đối với các loại nhà đất này.
2. Căn cứ vào hiện trạng và mục đích sử dụng nhà đất mà Nhà nước đã xác lập sở hữu toàn dân quy định tại khoản 1 Điều này, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giao nhiệm vụ quản lý quỹ nhà đất này )
Thứ tư, không thể áp dụng NQ 23/2003/NQ-QH ngày 26/11/2003 của QH về nhà đất do Nhà nước quản lý làm căn cứ pháp lý giải quyết trường hợp của bà Chín.
NQ 23/2003/NQ-QH ngày 26/11/2003 của QH về nhà đất do Nhà nước quản lý về nhà đất và chính sách cải tạo XHCN trước ngày 1/7/1991 có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2004.
NQ 23 áp dụng đối với phần diện tích đất đã bị Nhà nước trưng thu và quản lý từ năm 1975 thì Nhà nước là không thừa nhận việc đòi lại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất trước 1991.Nhưng năm 1993, Ban cải tạo công thương nghiệp TP.HCM ban hành công văn số 36/VP-BCT xác nhận căn nhà không thuộc diện cải tạo tư sản thương nghiệp năm 1978 và đề nghị trả lại nhà cho chủ sở hữu, …. Như vậy, sau năm 1991 căn nhà không thuộc sự quản lý của Nhà nước.
Thư năm, đối với căn nhà 112 Châu Văn Liêm
Nguồn gốc: căn nhà 112 là nhà cấp 4 dùng để xe, làm nhà kho chứa đồ dùng sinh hoạt gia đình và phục vụ công việc kinh doanh.
Ngày 16/5/1978, UBND phường 10 quận 5 chốt nhà số 114 và cũng không cho gia đình bà Chín ở lại căn nhà số 112.
Hiện tại, căn số 112 là lối đi đã bị xập mái.
Quá trình khiếu nại của bà Chín:
Ngày 26/5/1999, bà Chín khiếu nại tại Sở địa chính đòi lại 02 căn nhà số 112 và 114
Ngày 24/8/1999, bà Chín đứng tên kê khai cả 2 căn nhà 112 và 114
Ngày 27/5/2011, bà Chín gửi đơn khiếu nại UBND TP xin lại 2 căn nhà
Ngày 24/6/2015 làm đơn yêu cầu đo vẽ 2 căn nhà
Ngày 11/4/2024, có bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị: “ công nhận quyền sở huux với căn nhà số 112 Châu Văn Liêm do bà Chín và các đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị Hà”
Phúc đáp từ cơ quan Nhà nước:
1/ Công văn số 147/CV-UB ngày 11/4/1992 của UBND quận 5 (giải quyết khiếu nại)
2/ Công văn số 283/VP-BCT ngày 14/11/1992 của Ban cải tạo công thương nghiệp TP.HCM
3/ Công văn số 36/VP-BCT ngày 9/2/1993 của Ban cải tạo công thương nghiệp TP.HCM
Tất cả các văn bản trên đều có nội dung xác định căn nhà số 114 Châu Văn Liêm “ không thuộc diện cải tạo tư sản thương nghiệp ngày 23/03/1978” ngành may và cũng không có quyết định nào là nhà bà Chín thuộc diện cải tạo hoặc thanh lý căn nhà. (không đề cập đến số 112).
4/ Ngày 26/11/2011, Chủ tịch UB TP ban hành QDD5723/QĐ-UB “không công nhận việc đòi lại căn nhà số 114” (không đề cập số nhà 112)
5/ Ngày 25/6/2015, tòa án có CV số 1617/TATP-THC yêu cầu UBND phường 11 q5 cung cấp thông tin về 2 căn nhà , nhân khẩu cư trú
6/ Ngày 25/6/2015, tòa án có CV số 1617/TATP-THC yêu cầu UBND phường 11 q5 cung cấp thông tin về 2 căn nhà , nhân khẩu cư trú.
7/ Ngày 23/7/2015, UBND phường 11 q5 có CV số 157/UBND gởi tòa án TPHCM trả lời cho CV 1617 như sau “khu đất 112 hiện là hẻm công cộng. Nguồn gốc pháp lý liên quan UBND phường không rõ” ** phúc đáp trả lời có liên quan đến 112
8/ Ngày 25/6/2015, Tòa án TP có công văn 1616/TATP-THC gửi Trung tâm đo đạc bản đồ TPHCM để tiến hành đo đạc, lập bản vẽ hiện trạng vị trí nhà và đất tại 2 căn 112 và 114.
9/ Ngày 6/4/2016, Tòa án TP có công văn 980/TATP-THC gửi Trung tâm đo đạc bản đồ TPHCM để tiến hành đo đạc, lập bản vẽ hiện trạng vị trí nhà và đất tại 2 căn 112 và 114.
9/ Ngày 15/5/2017, Tòa án Thành phố có CV 2603/TATP-THC gửi Công an phường 11 quận 5 yêu cầu cung cấp thông tin 2 căn nhà 112 và 114 về “bao nhiêu nhân khẩu, họ tên người đang cư trú tạm trú, thời gian nào, hiện có ở địa phương không hay chuyển đi nơi khác rồi, địa chỉ nơi chuyển đến, thời gian chuyển đi,…”
10/ Ngày 7/9/2017, Tòa án TP có công văn 3808/TATP-THC gửi Trung tâm đo đạc bản đồ TPHCM để tiến hành đo đạc, lập bản vẽ hiện trạng vị trí nhà và đất tại 2 căn 112 và 114.