Báo PLTPHCM phỏng vấn LS Trần Minh Hùng về sửa đổi Luật Luật sư
Kính gửi chuyên gia nội dung như sau:
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đang được Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo, dự kiến trình Quốc hội trong năm 2026, có chứa đựng nhiều nội dung đổi mới đáng chú ý. Trong số các đề xuất mới, quy định trao thẩm quyền cho UBND cấp xã thực hiện kiểm tra về tổ chức và hoạt động của luật sư trên địa bàn là nội dung nhận được sự quan tâm đặc biệt từ giới hành nghề luật. Đây là quy định hoàn toàn mới so với Luật Luật sư năm 2006, kể cả sau hai lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2012 và năm 2015.
Liên đoàn Luật sư Việt Nam cho rằng cần xem xét lại tờ trình lấy ý kiến chính sách Luật Luật sư (sửa đổi) của Bộ Tư pháp về việc cấp xã được kiểm tra hành chính luật sư.
Cụ thể, đối với nội dung giao UBND cấp xã thực hiện việc kiểm tra hành chính về tổ chức và hoạt động của luật sư phù hợp với điều kiện, yêu cầu nhiệm vụ của từng địa phương thì cũng cần phải trao đổi thêm vì UBND cấp xã hiện nay mới sáp nhập, đang có rất nhiều việc cấp thiết hơn phải làm.
Trong khi phạm vi hoạt động của luật sư khá rộng, từ trung ương đến địa phương, chưa rõ UBND cấp xã sẽ kiểm tra hành chính về những nội dung gì đối với tổ chức và hoạt động của luật sư.
Hơn nữa, nghề luật sư với tính chất đặc thù đòi hỏi sự quản lý bằng chuyên môn chứ không phải bằng thẩm quyền hành chính theo lãnh thổ.
1. Với đặc thù nghề luật sư hoạt động không bị giới hạn theo địa bàn, việc giao UBND cấp xã kiểm tra có phù hợp không?
Xét dưới góc độ pháp lý và đặc thù của nghề luật sư, việc giao UBND cấp xã thực hiện kiểm tra đối với tổ chức và hoạt động của luật sư cần được cân nhắc thận trọng, bởi mô hình này chưa thực sự phù hợp với bản chất hoạt động nghề nghiệp của luật sư theo quy định của pháp luật hiện hành. Theo Luật Luật sư, luật sư sau khi được cấp Chứng chỉ hành nghề và gia nhập Đoàn luật sư có quyền cung cấp dịch vụ pháp lý trên phạm vi toàn quốc, bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác cho cá nhân, tổ chức ở nhiều địa phương khác nhau. Điều này cho thấy hoạt động hành nghề luật sư không bị giới hạn bởi địa giới hành chính mà mang tính nghề nghiệp và tính chuyên môn cao.
Về cơ chế quản lý, Luật Luật sư hiện hành thiết lập mô hình quản lý kết hợp giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp. Trong đó, quản lý nhà nước đối với luật sư thuộc thẩm quyền của Bộ Tư pháp và các Sở Tư pháp tại địa phương; đồng thời hoạt động nghề nghiệp của luật sư còn chịu sự giám sát, quản lý của tổ chức xã hội – nghề nghiệp là Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn luật sư. Hệ thống này cho phép việc quản lý nghề luật sư được thực hiện dựa trên tiêu chuẩn chuyên môn, quy tắc đạo đức nghề nghiệp và quy trình nghiệp vụ đặc thù, thay vì chỉ dựa trên thẩm quyền hành chính theo lãnh thổ.
Trong khi đó, UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở cấp cơ sở, chủ yếu thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn đối với các lĩnh vực dân cư, trật tự xã hội, đất đai, xây dựng, hộ tịch và các nhiệm vụ quản lý hành chính địa phương khác. Cơ quan này về cơ bản không có chức năng quản lý chuyên môn đối với các nghề nghiệp đặc thù như luật sư. Do đó, nếu giao thẩm quyền kiểm tra hoạt động của luật sư cho UBND cấp xã thì có thể phát sinh một số vấn đề về tính phù hợp và khả thi.
Thứ nhất, cán bộ cấp xã thường không được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực hành nghề luật sư, nên việc đánh giá hoặc kiểm tra các hoạt động liên quan đến dịch vụ pháp lý, đạo đức nghề nghiệp hoặc quy trình hành nghề sẽ gặp nhiều hạn chế.
Thứ hai, do luật sư có thể tham gia giải quyết vụ việc ở nhiều địa phương khác nhau, nên việc kiểm tra dựa trên tiêu chí địa bàn hành chính có thể không phản ánh đúng bản chất hoạt động nghề nghiệp.
Ngoài ra, nghề luật sư còn gắn với nguyên tắc độc lập trong hành nghề và nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng. Nếu cơ chế kiểm tra không được thiết kế phù hợp, việc để chính quyền cấp cơ sở tham gia kiểm tra có thể dẫn đến nguy cơ can thiệp quá sâu vào hoạt động nghề nghiệp, thậm chí ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng cũng như nguyên tắc bảo mật thông tin theo quy định của Luật Luật sư.
2. Theo luật sư, việc nhiều cấp cùng tham gia kiểm tra có thể gây chồng chéo với cơ chế quản lý hiện hành như thế nào?
Việc bổ sung thẩm quyền kiểm tra của UBND cấp xã đối với tổ chức và hoạt động của luật sư có thể dẫn đến nguy cơ chồng chéo với cơ chế quản lý hiện hành, bởi hoạt động của luật sư hiện nay đã chịu sự điều chỉnh bởi nhiều chủ thể quản lý khác nhau theo quy định của Luật Luật sư. Theo luật này, mô hình quản lý nghề luật sư được thiết kế theo cơ chế kết hợp giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp. Trong đó, theo Luật Luật sư (sửa đổi 2012, 2015) và Nghị định 121/2025/NĐ‑CP, thẩm quyền quan trọng như cấp, thu hồi, cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư hiện nay thuộc về Chủ tịch UBND cấp tỉnh, trong khi Sở Tư pháp chỉ thực hiện thẩm tra, tham mưu. Điều này cho thấy hoạt động nghề luật sư được quản lý ở cấp tỉnh và cơ quan tư pháp chuyên ngành, chứ không phải cấp xã.
Song song với đó, luật sư còn chịu sự quản lý của tổ chức xã hội – nghề nghiệp là Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn luật sư địa phương. Các tổ chức này thực hiện chức năng tự quản nghề nghiệp thông qua việc giám sát việc tuân thủ Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, xem xét xử lý kỷ luật đối với luật sư vi phạm, cũng như kiểm tra việc chấp hành quy định về nghĩa vụ nghề nghiệp của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư. Như vậy, hệ thống quản lý hiện hành đã hình thành hai tầng kiểm soát tương đối đầy đủ: quản lý hành chính của cơ quan nhà nước và quản lý nghề nghiệp của tổ chức luật sư.
Nếu bổ sung thêm thẩm quyền kiểm tra của UBND cấp xã thì sẽ xuất hiện thêm một tầng kiểm tra hành chính dựa trên địa bàn, có thể dẫn đến sự trùng lặp về phạm vi và nội dung kiểm tra. Chẳng hạn, đối với một văn phòng luật sư hoạt động trên địa bàn, cùng một thời điểm có thể phải tiếp nhiều đoàn kiểm tra khác nhau, bao gồm thanh tra hoặc kiểm tra của Sở Tư pháp, kiểm tra của tổ chức luật sư về việc tuân thủ quy tắc nghề nghiệp, và thêm kiểm tra hành chính từ chính quyền địa phương. Điều này không chỉ làm gia tăng thủ tục hành chính mà còn có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý, vốn đòi hỏi tính ổn định và độc lập trong hành nghề.
Ngoài ra, sự chồng chéo còn có thể phát sinh từ việc khó xác định ranh giới giữa kiểm tra hành chính và kiểm tra chuyên môn. Trong thực tiễn, hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư thường gắn liền với hồ sơ vụ việc, hợp đồng dịch vụ pháp lý, thông tin khách hàng và các tài liệu chuyên môn. Nếu UBND cấp xã tham gia kiểm tra mà không có quy định rõ ràng về phạm vi, rất dễ xảy ra tình trạng cơ quan hành chính cơ sở tiếp cận hoặc yêu cầu cung cấp các tài liệu thuộc phạm vi bí mật nghề nghiệp, trong khi những nội dung này vốn chỉ thuộc thẩm quyền quản lý chuyên ngành của cơ quan tư pháp hoặc tổ chức luật sư.
Vì vậy, nếu không được quy định cụ thể và hợp lý, việc nhiều cấp cùng tham gia kiểm tra có thể dẫn đến tình trạng chồng chéo thẩm quyền, gia tăng gánh nặng thủ tục đối với tổ chức hành nghề luật sư và làm giảm hiệu quả của cơ chế quản lý hiện hành. Điều này cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp đến nguyên tắc độc lập của nghề luật sư – một nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm luật sư có thể thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách khách quan và không bị can thiệp không cần thiết.
3. Nếu buộc phải giữ quy định này, cần bổ sung những điều kiện, giới hạn nào để tránh lạm quyền?
Trong trường hợp cơ quan soạn thảo vẫn giữ quy định giao UBND cấp xã thực hiện kiểm tra đối với tổ chức và hoạt động của luật sư, thì cần thiết phải thiết kế các điều kiện và giới hạn pháp lý rõ ràng nhằm bảo đảm quy định này không dẫn đến lạm quyền hoặc can thiệp không phù hợp vào hoạt động nghề nghiệp của luật sư. Điều này đặc biệt quan trọng bởi nghề luật sư có tính độc lập cao và gắn liền với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Luật sư.
Trước hết, cần giới hạn rõ phạm vi kiểm tra của UBND cấp xã chỉ dừng lại ở các nội dung mang tính quản lý hành chính trên địa bàn, chẳng hạn như việc tuân thủ quy định về đăng ký trụ sở, treo biển hiệu, bảo đảm trật tự, an ninh hoặc các nghĩa vụ quản lý địa phương theo quy định pháp luật. UBND cấp xã không nên có thẩm quyền kiểm tra các nội dung liên quan đến hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ hành nghề luật sư, chẳng hạn như hợp đồng dịch vụ pháp lý, chiến lược tư vấn hoặc hồ sơ vụ việc của khách hàng. Những nội dung này thuộc phạm vi quản lý chuyên ngành của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp và cơ chế tự quản của Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Thứ hai, cần quy định rõ nguyên tắc không xâm phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin của luật sư. Theo Luật Luật sư, luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật về vụ việc, thông tin khách hàng và các tài liệu liên quan mà mình biết được trong quá trình hành nghề. Vì vậy, pháp luật cần quy định rõ UBND cấp xã không được yêu cầu luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư cung cấp hồ sơ vụ việc, tài liệu tư vấn hoặc thông tin khách hàng, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng theo đúng trình tự pháp luật.
Thứ ba, cần thiết lập cơ chế kiểm tra có điều kiện nhằm tránh tình trạng kiểm tra tràn lan. Việc kiểm tra của UBND cấp xã chỉ nên được thực hiện khi có căn cứ cụ thể như phản ánh, khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu phối hợp của cơ quan quản lý chuyên ngành. Đồng thời, pháp luật cũng nên quy định nguyên tắc không kiểm tra trùng lặp với hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan tư pháp để tránh gây áp lực hành chính không cần thiết đối với tổ chức hành nghề luật sư.
Thứ tư, cần quy định rõ trình tự, thủ tục và trách nhiệm giải trình trong quá trình kiểm tra. Mọi hoạt động kiểm tra phải được thực hiện theo kế hoạch hoặc quyết định bằng văn bản, có lập biên bản, ghi nhận rõ nội dung kiểm tra và chịu sự giám sát của cơ quan tư pháp cấp trên. Ngoài ra, luật sư và tổ chức hành nghề luật sư cũng cần được bảo đảm quyền khiếu nại, kiến nghị nếu việc kiểm tra vượt quá phạm vi thẩm quyền hoặc có dấu hiệu lạm quyền.
cảm ơn LS TRẦN MINH HÙNGDự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đang được Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo, dự kiến trình Quốc hội trong năm 2026, có chứa đựng nhiều nội dung đổi mới đáng chú ý. Trong số các đề xuất mới, quy định trao thẩm quyền cho UBND cấp xã thực hiện kiểm tra về tổ chức và hoạt động của luật sư trên địa bàn là nội dung nhận được sự quan tâm đặc biệt từ giới hành nghề luật. Đây là quy định hoàn toàn mới so với Luật Luật sư năm 2006, kể cả sau hai lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2012 và năm 2015.
Liên đoàn Luật sư Việt Nam cho rằng cần xem xét lại tờ trình lấy ý kiến chính sách Luật Luật sư (sửa đổi) của Bộ Tư pháp về việc cấp xã được kiểm tra hành chính luật sư.
Cụ thể, đối với nội dung giao UBND cấp xã thực hiện việc kiểm tra hành chính về tổ chức và hoạt động của luật sư phù hợp với điều kiện, yêu cầu nhiệm vụ của từng địa phương thì cũng cần phải trao đổi thêm vì UBND cấp xã hiện nay mới sáp nhập, đang có rất nhiều việc cấp thiết hơn phải làm.
Trong khi phạm vi hoạt động của luật sư khá rộng, từ trung ương đến địa phương, chưa rõ UBND cấp xã sẽ kiểm tra hành chính về những nội dung gì đối với tổ chức và hoạt động của luật sư.
Hơn nữa, nghề luật sư với tính chất đặc thù đòi hỏi sự quản lý bằng chuyên môn chứ không phải bằng thẩm quyền hành chính theo lãnh thổ.
1. Với đặc thù nghề luật sư hoạt động không bị giới hạn theo địa bàn, việc giao UBND cấp xã kiểm tra có phù hợp không?
Xét dưới góc độ pháp lý và đặc thù của nghề luật sư, việc giao UBND cấp xã thực hiện kiểm tra đối với tổ chức và hoạt động của luật sư cần được cân nhắc thận trọng, bởi mô hình này chưa thực sự phù hợp với bản chất hoạt động nghề nghiệp của luật sư theo quy định của pháp luật hiện hành. Theo Luật Luật sư, luật sư sau khi được cấp Chứng chỉ hành nghề và gia nhập Đoàn luật sư có quyền cung cấp dịch vụ pháp lý trên phạm vi toàn quốc, bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác cho cá nhân, tổ chức ở nhiều địa phương khác nhau. Điều này cho thấy hoạt động hành nghề luật sư không bị giới hạn bởi địa giới hành chính mà mang tính nghề nghiệp và tính chuyên môn cao.
Về cơ chế quản lý, Luật Luật sư hiện hành thiết lập mô hình quản lý kết hợp giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp. Trong đó, quản lý nhà nước đối với luật sư thuộc thẩm quyền của Bộ Tư pháp và các Sở Tư pháp tại địa phương; đồng thời hoạt động nghề nghiệp của luật sư còn chịu sự giám sát, quản lý của tổ chức xã hội – nghề nghiệp là Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn luật sư. Hệ thống này cho phép việc quản lý nghề luật sư được thực hiện dựa trên tiêu chuẩn chuyên môn, quy tắc đạo đức nghề nghiệp và quy trình nghiệp vụ đặc thù, thay vì chỉ dựa trên thẩm quyền hành chính theo lãnh thổ.
Trong khi đó, UBND cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở cấp cơ sở, chủ yếu thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn đối với các lĩnh vực dân cư, trật tự xã hội, đất đai, xây dựng, hộ tịch và các nhiệm vụ quản lý hành chính địa phương khác. Cơ quan này về cơ bản không có chức năng quản lý chuyên môn đối với các nghề nghiệp đặc thù như luật sư. Do đó, nếu giao thẩm quyền kiểm tra hoạt động của luật sư cho UBND cấp xã thì có thể phát sinh một số vấn đề về tính phù hợp và khả thi.
Thứ nhất, cán bộ cấp xã thường không được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực hành nghề luật sư, nên việc đánh giá hoặc kiểm tra các hoạt động liên quan đến dịch vụ pháp lý, đạo đức nghề nghiệp hoặc quy trình hành nghề sẽ gặp nhiều hạn chế.
Thứ hai, do luật sư có thể tham gia giải quyết vụ việc ở nhiều địa phương khác nhau, nên việc kiểm tra dựa trên tiêu chí địa bàn hành chính có thể không phản ánh đúng bản chất hoạt động nghề nghiệp.
Ngoài ra, nghề luật sư còn gắn với nguyên tắc độc lập trong hành nghề và nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng. Nếu cơ chế kiểm tra không được thiết kế phù hợp, việc để chính quyền cấp cơ sở tham gia kiểm tra có thể dẫn đến nguy cơ can thiệp quá sâu vào hoạt động nghề nghiệp, thậm chí ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng cũng như nguyên tắc bảo mật thông tin theo quy định của Luật Luật sư.
2. Theo luật sư, việc nhiều cấp cùng tham gia kiểm tra có thể gây chồng chéo với cơ chế quản lý hiện hành như thế nào?
Việc bổ sung thẩm quyền kiểm tra của UBND cấp xã đối với tổ chức và hoạt động của luật sư có thể dẫn đến nguy cơ chồng chéo với cơ chế quản lý hiện hành, bởi hoạt động của luật sư hiện nay đã chịu sự điều chỉnh bởi nhiều chủ thể quản lý khác nhau theo quy định của Luật Luật sư. Theo luật này, mô hình quản lý nghề luật sư được thiết kế theo cơ chế kết hợp giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp. Trong đó, theo Luật Luật sư (sửa đổi 2012, 2015) và Nghị định 121/2025/NĐ‑CP, thẩm quyền quan trọng như cấp, thu hồi, cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư hiện nay thuộc về Chủ tịch UBND cấp tỉnh, trong khi Sở Tư pháp chỉ thực hiện thẩm tra, tham mưu. Điều này cho thấy hoạt động nghề luật sư được quản lý ở cấp tỉnh và cơ quan tư pháp chuyên ngành, chứ không phải cấp xã.
Song song với đó, luật sư còn chịu sự quản lý của tổ chức xã hội – nghề nghiệp là Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn luật sư địa phương. Các tổ chức này thực hiện chức năng tự quản nghề nghiệp thông qua việc giám sát việc tuân thủ Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam, xem xét xử lý kỷ luật đối với luật sư vi phạm, cũng như kiểm tra việc chấp hành quy định về nghĩa vụ nghề nghiệp của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư. Như vậy, hệ thống quản lý hiện hành đã hình thành hai tầng kiểm soát tương đối đầy đủ: quản lý hành chính của cơ quan nhà nước và quản lý nghề nghiệp của tổ chức luật sư.
Nếu bổ sung thêm thẩm quyền kiểm tra của UBND cấp xã thì sẽ xuất hiện thêm một tầng kiểm tra hành chính dựa trên địa bàn, có thể dẫn đến sự trùng lặp về phạm vi và nội dung kiểm tra. Chẳng hạn, đối với một văn phòng luật sư hoạt động trên địa bàn, cùng một thời điểm có thể phải tiếp nhiều đoàn kiểm tra khác nhau, bao gồm thanh tra hoặc kiểm tra của Sở Tư pháp, kiểm tra của tổ chức luật sư về việc tuân thủ quy tắc nghề nghiệp, và thêm kiểm tra hành chính từ chính quyền địa phương. Điều này không chỉ làm gia tăng thủ tục hành chính mà còn có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý, vốn đòi hỏi tính ổn định và độc lập trong hành nghề.
Ngoài ra, sự chồng chéo còn có thể phát sinh từ việc khó xác định ranh giới giữa kiểm tra hành chính và kiểm tra chuyên môn. Trong thực tiễn, hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư thường gắn liền với hồ sơ vụ việc, hợp đồng dịch vụ pháp lý, thông tin khách hàng và các tài liệu chuyên môn. Nếu UBND cấp xã tham gia kiểm tra mà không có quy định rõ ràng về phạm vi, rất dễ xảy ra tình trạng cơ quan hành chính cơ sở tiếp cận hoặc yêu cầu cung cấp các tài liệu thuộc phạm vi bí mật nghề nghiệp, trong khi những nội dung này vốn chỉ thuộc thẩm quyền quản lý chuyên ngành của cơ quan tư pháp hoặc tổ chức luật sư.
Vì vậy, nếu không được quy định cụ thể và hợp lý, việc nhiều cấp cùng tham gia kiểm tra có thể dẫn đến tình trạng chồng chéo thẩm quyền, gia tăng gánh nặng thủ tục đối với tổ chức hành nghề luật sư và làm giảm hiệu quả của cơ chế quản lý hiện hành. Điều này cũng có thể ảnh hưởng gián tiếp đến nguyên tắc độc lập của nghề luật sư – một nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm luật sư có thể thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách khách quan và không bị can thiệp không cần thiết.
3. Nếu buộc phải giữ quy định này, cần bổ sung những điều kiện, giới hạn nào để tránh lạm quyền?
Trong trường hợp cơ quan soạn thảo vẫn giữ quy định giao UBND cấp xã thực hiện kiểm tra đối với tổ chức và hoạt động của luật sư, thì cần thiết phải thiết kế các điều kiện và giới hạn pháp lý rõ ràng nhằm bảo đảm quy định này không dẫn đến lạm quyền hoặc can thiệp không phù hợp vào hoạt động nghề nghiệp của luật sư. Điều này đặc biệt quan trọng bởi nghề luật sư có tính độc lập cao và gắn liền với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Luật sư.
Trước hết, cần giới hạn rõ phạm vi kiểm tra của UBND cấp xã chỉ dừng lại ở các nội dung mang tính quản lý hành chính trên địa bàn, chẳng hạn như việc tuân thủ quy định về đăng ký trụ sở, treo biển hiệu, bảo đảm trật tự, an ninh hoặc các nghĩa vụ quản lý địa phương theo quy định pháp luật. UBND cấp xã không nên có thẩm quyền kiểm tra các nội dung liên quan đến hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ hành nghề luật sư, chẳng hạn như hợp đồng dịch vụ pháp lý, chiến lược tư vấn hoặc hồ sơ vụ việc của khách hàng. Những nội dung này thuộc phạm vi quản lý chuyên ngành của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp và cơ chế tự quản của Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Thứ hai, cần quy định rõ nguyên tắc không xâm phạm nghĩa vụ bảo mật thông tin của luật sư. Theo Luật Luật sư, luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật về vụ việc, thông tin khách hàng và các tài liệu liên quan mà mình biết được trong quá trình hành nghề. Vì vậy, pháp luật cần quy định rõ UBND cấp xã không được yêu cầu luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư cung cấp hồ sơ vụ việc, tài liệu tư vấn hoặc thông tin khách hàng, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng theo đúng trình tự pháp luật.
Thứ ba, cần thiết lập cơ chế kiểm tra có điều kiện nhằm tránh tình trạng kiểm tra tràn lan. Việc kiểm tra của UBND cấp xã chỉ nên được thực hiện khi có căn cứ cụ thể như phản ánh, khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu phối hợp của cơ quan quản lý chuyên ngành. Đồng thời, pháp luật cũng nên quy định nguyên tắc không kiểm tra trùng lặp với hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan tư pháp để tránh gây áp lực hành chính không cần thiết đối với tổ chức hành nghề luật sư.
Thứ tư, cần quy định rõ trình tự, thủ tục và trách nhiệm giải trình trong quá trình kiểm tra. Mọi hoạt động kiểm tra phải được thực hiện theo kế hoạch hoặc quyết định bằng văn bản, có lập biên bản, ghi nhận rõ nội dung kiểm tra và chịu sự giám sát của cơ quan tư pháp cấp trên. Ngoài ra, luật sư và tổ chức hành nghề luật sư cũng cần được bảo đảm quyền khiếu nại, kiến nghị nếu việc kiểm tra vượt quá phạm vi thẩm quyền hoặc có dấu hiệu lạm quyền.
PV THẢO HIỀN, BÁO PLTPHCM PHỎNG VẤN LS HÙNG
