CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TP.HCM, ngày … tháng … năm 2026
ĐƠN KHÁNG CÁO
Kính gửi: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người kháng cáo:
Họ và tên : TRẦN THỊ CHÍN
Sinh năm :  
Địa chỉ :  
Là Nguyên đơn trong vụ án “Yêu cầu hủy quyết định số: 172/QĐ-UB ngày 16/4/2001 của UBND TP.HCM quyết định về việc xác lập nhà thuộc sở hữu nhà nước và quyết định 5723/QĐ-UBND ngày 26/11/2011 quyết định giải quyết khiếu nại đòi lại nhà của UBND TP.HCM” với Bị đơn UBND Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản án sơ thẩm số ……/2026/HC-ST ngày 04/9/2026 do Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vào ngày 04/9/2026.
Kháng cáo: Kháng cáo toàn bộ nội dung Bản án sơ thẩm số ……/2026/HC-ST ngày 04/9/2026 về việc “Yêu cầu hủy quyết định số: 172/QĐ-UB ngày 16/4/2001 của UBND TP.HCM quyết định về việc xác lập nhà thuộc sở hữu nhà nước và quyết định 5723/QĐ-UBND ngày 26/11/2011 quyết định giải quyết khiếu nại đòi lại nhà của UBND TP.HCM” của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Lý do kháng cáo: Không đồng ý toàn bộ nội dung Bản án sơ thẩm số ……/2026/HC-ST ngày 04/9/2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh do xét xử không khách quan, không xem xét chứng cứ đầy đủ, không đúng pháp luật và không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của tôi, giải quyết không có tình và lý. Bởi lẽ:
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không thể căn cứ theo Điều 1 Nghị Quyết 23/2003/NQ-QH ngày 26/11/2003 của QH về nhà đất do Nhà nước quản lý để bác yêu cầu xin giao trả lại nhà cho tôi (căn cứ theo công văn số 5110/UBND-NCPC ngày 30/12/2020 trả lời của UBND TP.HCM).
“ Nhà nước không xem xét lại chủ trương, chính sách và việc thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất đã ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 1991.
Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất.”
Theo quy định trên, Nhà nước không xem xét lại, không thừa nhận việc đòi lại nhà đất khi nhà đất thuộc diện thực hiện các chính sách quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 23/2003/QH11 này. Cụ thể tại Điều 2 Nghị quyết 23/2003 quy định như sau:
“Điều 2: Nhà nước hoàn thành thủ tục pháp lý về sở hữu toàn dân đối với các loại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách dưới đây:
1. Cải tạo nhà đất cho thuê;
2. Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh có liên quan trực tiếp đến nhà đất;
3. Quản lý nhà đất của các tổ chức, cá nhân (diện 2/IV) ở các tỉnh, thành phố phía Nam sau ngày giải phóng (30/4/1975);
4. Quản lý nhà đất vắng chủ;
5. Quản lý nhà đất trong từng thời điểm nhất định và nhà đất của các đoàn hội, tôn giáo;
6. Quản lý nhà đất của những người di tản, chuyển vùng hoặc ra nước ngoài.”
Tuy nhiên, căn nhà của tôi không nằm trong các chính sách mà Nhà nước được phép quản lý theo Điều 2 NQ 23/2003/NQ-QH ngày 26/11/2003, bởi lẽ:
Thứ nhất, nhà của tôi không thuộc diện cải tạo công nghiệp tư bản năm 1978
Trước năm 1978, ông Trần Văn Tám (là cha của tôi) đứng tên môn bài kinh doanh ngành hớt tóc tại tầng trệt và ngành khách sạn (12 phòng). Còn tôi đứng tên môn bài kinh doanh ngành may mặc tại tầng trệt. Việc này, được làm rõ trong các văn bản sau:
1/Công văn số 147/CV-UB ngày 11/4/1992 của UBND quận 5 (giải quyết khiếu nại)
2/Công văn số 283/VP-BCT ngày 14/11/1992 của Ban cải tạo công thương nghiệp TP.HCM
3/Công văn số 36/VP-BCT ngày 9/2/1993 của Ban cải tạo công thương nghiệp TP.HCM
Tất cả các văn bản trên đều có nội dung xác định rõ căn nhà trên “không thuộc diện cải tạo tư sản thương nghiệp ngày 23/03/1978” ngành may và cũng không có quyết định nào là nhà của tôi thuộc diện cải tạo hoặc thanh lý căn nhà.
Đồng thời, nhà của tôi không nằm trong các chính sách tại khoản 2 Mục II của QĐ 100/QĐ-CP ngày 12/4/1977 của HDDCP về ban hành chính sách cải tạo XHCN đối với thương nghiệp tư nhân ở các tỉnh phía Nam. Cụ thể quy định như sau:
- Đối với các cơ sở kinh doanh thương nghiệp của Mỹ nguỵ, của tư sản mại bản, của tư sản có tội đã bỏ trốn ra nước ngoài, của bọn nguỵ quân, nguỵ quyền có nhiều tội ác, của tư sản gian thương lớn, thì tịch thu và tổ chức thành quốc doanh.
- Đối với các cơ sở kinh doanh thương nghiệp vắng chủ, mà không có người thừa kế hợp pháp, hoặc người đang quản lý không có đủ giấy uỷ quyền hợp pháp, thì Nhà nước trực tiếp quản lý, sau này khi người chủ về, Nhà nước sẽ tuỳ từng trường hợp cụ thể mà giải quyết theo chính sách chung.
- Đối với một số người muốn xin hiến tài sản cho Nhà nước, sẽ xét và chấp nhận cho hiến theo đúng tinh thần quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 434/TTg ngày 30 tháng 10 năm 1976.
- Có thể trưng thu hoặc trưng mua những cơ sở và phương tiện kinh doanh còn tốt của tư sản thương nghiệp. Số tiền trưng mua sẽ được Nhà nước chuyển qua Ngân hàng Nhà nước và trả dần trong một số năm, tuỳ theo nhu cầu hợp lý về vốn để sản xuất và sinh hoạt của từng hộ tư sản.
- Thương nghiệp quốc doanh có thể lựa chọn để sử dụng một số nhà tư sản có kỹ thuật và nghiệp vụ quản lý kinh doanh, trước đây quan hệ tốt với cách mạng và hiện nay có thái độ tuân thủ và chấp hành các chính sách, luật pháp của Nhà nước.
- Đối với các công nhân, người bán hàng đang làm thuê cho các nhà tư sản thương nghiệp, Nhà nước sẽ tuyển dụng vào làm trong mạng lưới thương nghiệp quốc doanh.
 
Thứ hai, nhà của tôi không phải nhà vắng chủ.
Vào tháng 3 năm 1978, UBND quận 5 tiến hành kiểm kê tài sản và quản lý phương tiện kinh doanh theo QĐ số 11/QĐ-UB ngày 5/4/1978 để làm nhà ở cho Công nhân xí nghiệp dệt mặc dù gia đình của tôi đang sinh sống trực tiếp tại căn nhà này.
Ngày 16/04/2001, UBND Thành phố Hồ Chí Minh ban hành QĐ 172/QĐ-UB về việc xác lập quyền sở hữu của nhà nước với căn nhà nói trên thuộc diện “Nhà vắng chủ”. Tuy nhiên, trước đó tôi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đăng ký kê khai nhà đất trên từ tháng 8/1999 đến tháng 12/2003. Như vậy, cho thấy tôi đã kê khai nhà, đất từ trước và đến sau cả thời điểm UBND Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định 172/QĐ-UB. Theo quy định trên, khi có chủ sở hữu kê đăng ký đất đai rõ ràng liên tục, sinh sống, khiếu nại trong nhiều năm thì không phải là nhà vắng chủ. Căn cứ theo Thông tư 201-BXD/TT ngày 23/6/1978 của Bộ Xây dựng hướng dẫn việc quản lý nhà, đất vắng chủ ở các tỉnh phía nam, quy định thì Nhà vắng chủ là:
“I. THẾ NÀO LÀ NHÀ ĐẤT VẮNG CHỦ:
Nhà đất vắng chủ ở miền Nam là nhà đất từ khi giải phóng miền Nam, người đứng tên sở hữu không có mặt ở địa phương, không có lý do chính đáng và cũng không đăng ký cư trú tại một nơi nào trên lãnh thổ nước Việt Nam như:
- Nhà đất của những người di tản ra nước ngoài trước và trong những ngày giải phóng miền Nam.
- Nhà đất của những người ra nước ngoài làm ăn sinh sống học tập, chữa bệnh thăm viếng bà con... từ trước ngày miền Nam giải phóng, không có uỷ quyền cho ai quản lý hoặc uỷ quyền không hợp pháp.
- Nhà đất của những người không rõ tung tích, không biết rõ còn sống hay chết. Nhà đất như trên là nhà đất vắng chủ.
- Nhà đất của ngoại kiều xuất cảnh không giao lại cho chính quyền ta, không uỷ quyền hợp lệ, hợp pháp cho ai quản lý cũng gọi là nhà đất vắng chủ của ngoại kiều.
- Nhà nước quản lý nhà đất vắng chủ theo chính sách quy định trong mục II Quyết định 111/CP ngày 14-4-1977 của HĐCP và Thông tư 31/BXD ngày 18-10-77 của Bộ Xây dựng.
II. NHÀ ĐẤT CỦA NHỮNG SỞ HỮU CHỦ SAU ĐÂY KHÔNG COI LÀ NHÀ ĐẤT VẮNG CHỦ:
- Nhà đất của những người tập kết ra miền Bắc, đi tham gia cách mạng, đi kháng chiến chưa kịp trở về.
- Nhà đất của những người tham gia xây dựng kinh tế mới chưa giải quyết xong việc mua bán chuyển nhượng.
- Nhà đất của những người được chính quyền ta cử đi công tác, đi học tập, đi chữa bệnh... ở nước ngoài và những người được phép ra nước ngoài có thời hạn, nhà cửa gửi lại bà con thân thuộc.
- Nhà đất của những người vì điều kiện sinh sống công tác không ở địa phương nơi có nhà đất mà lại ở trong một tỉnh khác có đăng ký cư trú nhất định.
Cụ thể, căn cứ theo nội dung Biên bản thực địa ngày 28/7/2015 của Trung Tâm đo đạc Bản đồ - Sở Tài nguyên và môi trường xác nhận: “Thực hiện đo đạc hiện trạng vị trí tại căn nhà 114 Châu Văn Liêm, Phường 11, Quận 5 … chưa thực hiện đo đạc vì đương sự bà Trần Thị Chín không cho vào căn nhà để đo vẽ”. Qua đó, chứng tỏ căn nhà trên không phải nhà vắng chủ.
Mặt khác, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương VN có công văn 4311/CV-CN ngày 20/10/2011 “danh sách nhận tiền vắng chủ lâu ngày không nhận tại chi nhánh ngân hàng quận 5 không có tên của của ông Trần Văn Tám”.
Ngày 9/2/1993, Ban cải tạo công nghiệp TP. HCM ban hành CV số 36/VP-BCT gửi UBND TP. HCM về việc giải quyết khiếu nại của gia đình tôi, trong đó có xác nhận “Tại thời điểm cải tạo thương nghiệp tháng 3/1978, ngày 16/5/1978 UBND phường 5 quận 10 đến đóng chốt và buộc gia đình rời khỏi nhà nên đương sự buộc phải rời khỏi nhà sống tại Củ Chi” … Do đó, trường hợp này gia đình của tôi là bị cưỡng chế rời khỏi nhà để kiểm kê chứ không phải nhà vô chủ theo như tờ trình vào ngày 16/4/2001 của UBND quận 5, cũng như cách lập luận của UBND TP. HCM là không có cơ sở.
Đồng thời, ngày 13/3/2001 tôi đứng tên kê khai căn nhà trên có sự xác nhận của Chủ tịch UBND phường 11, quận 5 vào ngày 19/9/1999. Tôi đã khiếu nại từ năm 1978 đến nay, có đầy đủ hồ sơ khiếu nại trong vụ án, tôi bị cưỡng chế đi sản xuất, không phải nhà vắng chủ, việc liên tục khiếu nại đòi nhà cho thấy tôi không thuộc trường hợp nhà vắng chủ. Cụ thể, từ thời điểm năm 1978 đến nay tôi vẫn ở Thành phố Hồ Chí Minh và liên tục thực hiện việc khiếu nại để đòi nhà. Như vậy, căn nhà này có nguồn gốc sở hữu rõ ràng, có chủ sở hữu đang sinh sống trực tiếp liên tục nhiều năm và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai nên không nằm trong diện Nhà vô chủ.
Thứ ba, theo quy định pháp luật, Nhà nước cần phải căn cứ vào hiện trạng và mục đích sử dụng nhà đất mà Nhà nước đã xác lập sở hữu toàn dân.
Vì vậy, việc xác nhận nhà vắng chủ là không có cơ sở pháp lý và sai quy định, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp và quyền sở hữu hợp pháp của tôi (căn cứ theo khoản 2 Điều 3 NĐ127/2005/NĐ-CP ngày 10/10/2005 của CP về hướng dẫn thực hiện NQ23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 và NQ755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 2/4/2005). Cụ thể quy định như sau:
Điều 3. Thủ tục pháp lý xác lập sở hữu toàn dân đối với các loại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng theo các chính sách quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 23/2003/QH11, khoản 2 Điều 5, Điều 6 và khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11, được thực hiện như sau:
“1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan có chức năng thống kê, rà soát và tổng hợp danh sách các loại nhà đất thuộc diện phải hoàn thành thủ tục pháp lý xác lập sở hữu toàn dân trên địa bàn và trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định xác lập sở hữu toàn dân đối với các loại nhà đất này.
2. Căn cứ vào hiện trạng và mục đích sử dụng nhà đất mà Nhà nước đã xác lập sở hữu toàn dân quy định tại khoản 1 Điều này, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giao nhiệm vụ quản lý quỹ nhà đất này.”
Thứ tư, không thể áp dụng NQ 23/2003/NQ-QH ngày 26/11/2003 của QH về nhà đất do Nhà nước quản lý làm căn cứ pháp lý giải quyết trường hợp của tôi.
Nghị quyết 23/2003/NQ-QH ngày 26/11/2003 của QH về nhà đất do Nhà nước quản lý về nhà đất và chính sách cải tạo XHCN trước ngày 1/7/1991 có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2004.
Theo Nghị quyết áp dụng đối với phần diện tích đất đã bị Nhà nước trưng thu và quản lý từ năm 1975 thì Nhà nước là không thừa nhận việc đòi lại nhà đất mà Nhà nước đã quản lý trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất trước năm 1991. Nhưng năm 1993, Ban cải tạo công thương nghiệp TP.HCM ban hành công văn số 36/VP-BCT xác nhận căn nhà không thuộc diện cải tạo tư sản thương nghiệp năm 1978 và đề nghị trả lại nhà cho chủ sở hữu, hoặc trả nhà khác hoặc bồi thường bằng tiền, … Như vậy, sau năm 1991 căn nhà của tôi không thuộc sự quản lý của Nhà nước, mãi tới ngày 16/04/2001, UBND Thành phố ban hành QĐ 172/QĐ-UB về việc xác lập quyền sở hữu của nhà nước đối với căn nhà của tôi là thuộc diện “Nhà vắng chủ”. Như vậy, đã sau năm 1991 nên không thuộc dạng Nhà nước quản lý về nhà đất và chính sách cải tạo XHCN. Mặt khác, năm 1991 đã có pháp lệnh nhà ở, không cho phép xác định nhà vắng chủ như UBND TP.HCM áp dụng.
Thư năm, đối với căn nhà 112 Châu Văn Liêm, phường 10, quận 5, TP.HCM
Nguồn gốc: Căn nhà 112 là nhà cấp 4 dùng để xe, làm nhà kho chứa đồ dùng sinh hoạt gia đình và phục vụ công việc kinh doanh.
Ngày 16/5/1978, UBND phường 10 quận 5, TP. HCM chốt nhà số 114 và cũng không cho gia đình của tôi ở lại căn nhà số 112. Hiện tại, căn số 112 là lối đi đã bị xập mái.
Quá trình khiếu nại của tôi, cụ thể như sau:
- Ngày 26/5/1999, tôi khiếu nại tại Sở địa chính đòi lại 02 căn nhà số 112 và 114.
- Ngày 24/8/1999, tôi đứng tên kê khai cả 02 căn nhà số 112 và 114.
- Ngày 27/5/2011, tôi gửi đơn khiếu nại UBND TP.HCM xin lại 02 căn nhà.
- Ngày 24/6/2015, tôi làm đơn yêu cầu đo vẽ 02 căn nhà trên.
- Ngày 11/4/2024, tôi có bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị: “Công nhận quyền sở hữu với căn nhà số 112 Châu Văn Liêm cho tôi và các đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị Hà”
Phúc đáp từ cơ quan Nhà nước như sau:
1/Công văn số 147/CV-UB ngày 11/4/1992 của UBND quận 5 (giải quyết khiếu nại)
2/Công văn số 283/VP-BCT ngày 14/11/1992 của Ban cải tạo công thương nghiệp TP.HCM
3/Công văn số 36/VP-BCT ngày 9/2/1993 của Ban cải tạo công thương nghiệp TP.HCM
Tất cả các văn bản trên đều có nội dung xác định căn nhà số 114 “không thuộc diện cải tạo tư sản thương nghiệp ngày 23/03/1978” ngành may và cũng không có quyết định nào xác định là nhà của tôi thuộc diện cải tạo hoặc thanh lý căn nhà. (không đề cập đến căn nhà số 112).
4/Ngày 26/11/2011, Chủ tịch UB TP.HCM ban hành QĐ5723/QĐ-UB  “Không công nhận việc đòi lại căn nhà số 114” (không đề cập số nhà 112)
5/Ngày 25/6/2015, tòa án có CV số 1617/TATP-THC yêu cầu UBND phường 11, quận 5 cung cấp thông tin về 02 căn nhà, nhân khẩu cư trú.
6/Ngày 23/7/2015, UBND phường 11, quận 5 có CV số 157/UBND gửi tòa án TP.HCM trả lời cho CV 1617 như sau “khu đất 112 hiện là hẻm công cộng. Nguồn gốc pháp lý liên quan UBND phường không rõ” (phúc đáp trả lời có liên quan đến 112)
7/Ngày 25/6/2015, Tòa án nhân dân TP.HCM có công văn 1616/TATP-THC gửi Trung tâm đo đạc bản đồ TP.HCM để tiến hành đo đạc, lập bản vẽ hiện trạng vị trí nhà và đất tại 02 căn 112 và 114.
8/Ngày 6/4/2016, Tòa án nhân dân TP.HCM có công văn 980/TATP-THC gửi Trung tâm đo đạc bản đồ TP.HCM để tiến hành đo đạc, lập bản vẽ hiện trạng vị trí nhà và đất tại 02 căn 112 và 114.
9/Ngày 15/5/2017, Tòa án nhân dân TP.HCM có CV 2603/TATP-THC gửi Công an phường 11, quận 5 yêu cầu cung cấp thông tin 02 căn nhà 112 và 114 về “bao nhiêu nhân khẩu, họ tên người đang cư trú tạm trú, thời gian nào, hiện có ở địa phương không hay chuyển đi nơi khác rồi, địa chỉ nơi chuyển đến, thời gian chuyển đi, …”
10/Ngày 7/9/2017, Tòa án nhân dân TP.HCM có công văn 3808/TATP-THC gửi Trung tâm đo đạc bản đồ TP.HCM để tiến hành đo đạc, lập bản vẽ hiện trạng vị trí nhà và đất tại 02 căn 112 và 114.
Hiện nay, đối với căn nhà số 112 đến nay vẫn chưa có văn bản hành chính nào liên quan về việc xử lý, quản lý căn nhà của tôi.
Thứ sáu: Nhà 114 chưa định giá: 32.139.822.000 đồng (Ba mươi hai tỷ một trăm ba mươi chín triệu tám trăm hai mươi hai nghìn đồng)
Tôi yêu cầu nếu không trả nhà, đất số 114 thì phải trả nhà, đất khác có giá trị tương đương hoặc trả cho tôi và các đồng thừa kế với số tiền là: 32.139.822.000 đồng (Ba mươi hai tỷ một trăm ba mươi chín triệu tám trăm hai mươi hai nghìn đồng)
Thứ bảy, Nhà đất thuộc sở hữu hợp pháp của tôi đã bị Nhà nước quản lý nhiều năm làm ảnh hưởng và gây thiệt hại nghiêm trọng cho tôi.
Ngày 9/2/1993 Ban cải tạo công thương nghiệp TP.HCM ban hành văn bản số 36/VP-BCT nội dung xác nhận nhà của tôi không thuộc diện cải tạo tư sản thương nghiệp năm 1978 đề nghị UBND TP.HCM “trả lại căn nhà” cho gia đình của tôi theo các hướng sau:
+ Trả lại nhà số 114 nêu trên
+ Hoán đổi một căn nhà khác hoặc xác định giá trị căn nhà để hoàn lại tiền cho gia đình của tôi mua nhà khác.
Giải quyết dứt điểm các phương án trên trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày ký quyết định này (9/2/1993). Đồng thời, ngày 26/10/1995 UBND thành phố có ban hành QĐ 7379/QĐ-UB-KT với nội dung “hoàn trả số vàng tư trang” cho tôi. Đến ngày 21/4/1997, Bộ tài chính có QĐ số 286 TC/QĐ/KBNN về việc trả lại tài sản tạm giữ cho tôi. Nhưng đến nay, gia đình của tôi vẫn chưa nhận được nhận lại nhà hoặc các hình thức hoán đổi khác như trên, tôi vẫn chưa nhận được tiền hóa giá nhà hay phương án hoán đổi nhà hoặc hoàn lại tiền theo CV số 36/VP-BCT ngày 9/2/1993.
Căn nhà trên không thuộc diện phải thực hiện 6 chính sách như theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội về nhà đất do nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 nhưng vẫn bị Nhà nước quản lý theo diện nhà vô chủ. Được xác nhận bởi Ủy ban nhân dân phường khi kiểm kê tài sản, xác nhận nhà của tôi vô chủ,… Dẫn đến một loạt bất cập về sau cũng như việc UBND thành phố áp dụng căn cứ xử lý vụ việc không đúng văn bản pháp luật liên quan trong quá trình quản lý hành chính, tố tụng,… Đồng thời, Cơ quan Nhà nước đã xác lập chuyển quyền sở hữu nhà đất trên cho người khác nên không thể hoàn trả lại nhà, đất cho tôi làm ảnh hưởng đến quyền lợi sở hữu hợp pháp của gia đình tôi.
Nhà đất nêu trên do gia đình tôi mua và tạo lập mà có từ năm 1961, theo đúng quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nhà đất của tôi không thuộc diện bị tịch thu, không thuộc diện nằm trong Chính sách quản lý nhà nước. Do đó, căn cứ theo Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước số 10/2017/QH14 ngày 20/6/2017 và theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của tôi kính đề nghị Tòa án xem xét bà Chín được khởi kiện yêu cầu bồi thường vì lỗi sai phạm từ phía cơ quan Nhà nước. Bởi lẽ:
- Sai phạm thứ nhất: Giao đất cho đối tượng khác khi đất đang có tranh chấp, có chủ sở hữu, sử dụng hợp pháp.
Ngày 17/10/1978, ông Trần Văn Tám (cha của tôi) có gửi đơn lên Ban cải tạo Quận 5 xin cứu xét nhưng không có ý kiến trả lời. Nhưng đến ngày 30/9/1978, QĐ 3038/QĐUB của UBND thành phố phân phối nhà cho Xí nghiệp Dệt 2P bố trí cho 20 hộ công dân. Theo đó, Chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà là ông Trần Văn Tám (cha của tôi) có đơn khiếu nại, cứu xét yêu cầu giao trả lại nhà. Sau đó, tôi tiếp tục khiếu nại đòi nhà đất nhưng Cơ quan chức năng vẫn chưa xử lý, giải quyết trả lại nhà nhưng đồng thời trong cùng năm lại ban hành Quyết định giao nhà cho đối tượng khác là cấp nhà đất khi đang tranh chấp, trái luật đất đai.
Cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trước khi ban hành quyết định nào đó cần phải có trách nhiệm thẩm tra, xác minh nguồn gốc, vị trí, đối tượng sử dụng đất để thực hiện theo đúng quy định. Trường hợp này là sai sót trong quá trình xác minh nguồn gốc, thẩm định hồ sơ từ cán bộ thụ lý ban đầu. Do đó, tôi cho rằng đây là hành vi thiếu trách nhiệm trong công việc của cán bộ cơ quan Nhà nước.
- Sai phạm thứ hai: Trong việc xác lập nhà vắng chủ
Căn cứ theo tờ trình số 461/QLĐTS ngày 13/3/2001 của Phòng quản lý đô thị - UBND quận 5 gửi Sở địa chính nhà đất có nội dung đề xuất nhà số 114 Châu Văn Liêm là nhà vắng chủ. Trong khi thực tế, nhà đang có tranh chấp (rất nhiều đơn từ xin đòi lại nhà gửi các cơ quan Nhà nước liên quan) và gia đình của tôi bị cưỡng chế rời khỏi nhà, tôi có kê khai đăng ký đất,… Quá trình giải quyết hồ sơ Cơ quan có trách nhiệm đã không thực hiện kiểm tra, làm rõ nội dung kê khai trên sổ đăng ký nhà, đất, không kiểm tra, xác minh nguồn gốc sử dụng đất. Chính vì vậy, việc xác định nhà vắng chủ khi không có căn cứ pháp lý rõ ràng là trái quy định pháp luật.
Mặt khác, căn cứ theo NĐ 127/2005/NĐ-CP ngày 10/10/2005 của CP về hướng dẫn thực hiện NQ23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 và NQ755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 2/4/2005. Đối với trường hợp nếu căn nhà của tôi được xem như Nhà nước trưng dụng, thì căn cứ theo Điều 6 NĐ127/2005/NĐ-CP, quy định:
Điều 6. Đối với nhà đất mà Nhà nước đã trưng mua nhưng chưa thanh toán tiền hoặc đã thanh toán một phần thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan có chức năng thực hiện việc thanh toán theo quy định sau đây:
1. Đối chiếu hồ sơ đề nghị thanh toán với hồ sơ gốc về trưng mua nhưng chưa thanh toán tiền hoặc đã thanh toán một phần để xác định cụ thể đối tượng thuộc diện được thanh toán, diện tích nhà khi Nhà nước trưng mua.
2. Thực hiện định giá nhà theo nguyên tắc lấy giá xây dựng mới của nhà ở cấp 2, nếu là biệt thự thì lấy giá xây dựng mới của biệt thự hạng 2 do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm thanh toán nhân với diện tích sử dụng nhà khi Nhà nước trưng mua để tính tiền làm cơ sở thanh toán.
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết những việc sau đây:
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy toàn bộ nội dung Bản án sơ thẩm số …/2026/HC-ST ngày 04/9/2026 về việc “Yêu cầu hủy quyết định số: 172/QĐ-UB ngày 16/4/2001 của UBND TP.HCM quyết định về việc xác lập nhà thuộc sở hữu nhà nước và quyết định 5723/QĐ-UBND ngày 26/11/2011 quyết định giải quyết khiếu nại đòi lại nhà của UBND TP.HCM” của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh do xét xử không khách quan, không xem xét chứng cứ đầy đủ, không đúng pháp luật và không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của tôi, giải quyết không có tình và lý.
Kính mong Quý Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu trên cho tôi.
Trân trọng cảm ơn.
  Người kháng cáo


TRẦN THỊ CHÍN